Luật sư gia đình
Chúng tôi là hãng luật tập trung các luật sư xuất thân trong các Gia Đình yêu nghề luật. Với phương châm đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật luật cung cấp tất cả các dịch vụ pháp lý tổng hợp trên mọi lĩnh vực nhằm đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức và thân chủ.
                                   LS TRẦN MINH HÙNG - Trưởng Hãng Luật Gia Đình
 
 
luật sư nhà đất thừa kế
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
luật sư chuyên nhà đất tại tphcm
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
luật sư nhà đất
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Hãng Luật Uy Tín Về Nhà Đất Thừa Kế Tại Việt Nam
luật sư doanh nghiệp
Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình
luật sư nhà đất
luật sư tư vấn
luật sư doanh nghiệp
Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình
Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình
luật sư doanh nghiệp
luật sư doanh nghiệp
luật sư thừa kế
luật sư doanh nghiệp
luat su nha dat
luật sư tư vấn chia tài sản khi ly hôn
luật sư thừa kế
luat su nha dat
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư ly hôn
luật sư doanh nghiệp
luat su tu van ly hon
luật sư nhà đất
luat su nha dat
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư trả lời báo chí
luật sư nhà đất
luật sư riêng cho công ty
luật sư tư vấn tại tphcm
luật sư cho công ty
luật sư bào chữa tại tòa về kinh tế
luật sư doanh nghiệp
luật sư nhà đất
luật sư riêng cho công ty
luật sư riêng
hình báo
ls
kinh tế
tranh tụng
kinh doanh
nhà đất
doanh nghiệp
hình tu van tại nhà
luật sư nhà đất
luat su doanh nghiep
hung1
hinh luat su
luat su
luat su
luat su
Hình 1
Hình 2
Hình 3

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ

luật sư công ty
luật sư thừa kế nhà đất
Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Hợp Đồng
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư nhà đất thừa kế ly hôn doanh nghiệp
luật sư tư vấn ly hôn
luật sư nhà đất
luật sư thừa kế
ls
Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng cho công ty
Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng cho công ty

I. Tranh chấp Hợp đồng:

 

Là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ Hợp đồng liên quan đến việc thực hiện (hoặc không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng.

 

1. Tranh chấp Hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về việc đánh giá hành vi vi phạm hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ vi phạm đó (trong khi vi phạm Hợp đồng là hành vi đơn phương của một bên đã xử sự trái với cam kết trong Hợp đồng).

 

Luật sư giỏi chuyên về hợp đồng tại TPHCM
Luật sư giỏi chuyên về hợp đồng tại TPHCM

Nội dung tư vấn giải quyết tranh chấp như sau:

 

+   Tư vấn, hướng dẫn khách hàng khởi kiện, lập hồ sơ theo kiện, các vấn đề về án phí, lệ phí và thủ tục khác liên quan;

 

+   Tư vấn, hướng dẫn đương sự soạn thảo các loại văn bản gửi tới các cơ quan có thẩm quyền (đơn khởi kiện, các đề xuất trong quá trình tố tụng, yêu cầu thi hành án…);

 

+   Nghiên cứu hồ sơ, các quy định pháp luật liên quan đến vụ việc cụ thể;

 

Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng kinh tế thương mại
Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng kinh tế thương mại
Hướng dẫn thủ tục khởi kiện án kinh tế - kinh doanh thương mại
▪ Tên thủ tục: Thủ tục khởi kiện án kinh tế - kinh doanh thương mại
▪ Cơ quan ban hành: Quốc hội - Chính phủ - Tòa Án Nhân Dân Tối Cao
▪ Mục đích:

Các thủ tục cần cần thiết để khởi kiện vụ án kinh tế - kinh doanh thương mại

 Đơn khởi kiện

▪ Đối tượng áp dụng:

I. Các loại vụ kiện

Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhận đơn khởi kiện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp kinh tế - kinh doanh thương mại sau đây nếu bị đơn cư trú, làm việc (bị đơn là cá nhân) hoặc bị đơn có trụ sở (bị đơn là cơ quan tổ chức) trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh:

Luật sư chuyên về hợp đồng tại tphcm
Luật sư chuyên về hợp đồng tại tphcm

Cùng với xu thế phát triển của xã hội, hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam và các nhà đầu tư nước ngoài luôn gắn liền với sự thương lượng, đàm phán, thỏa thuận. Vai trò của hợp đồng ngày càng quan trọng trong các giao dịch xã hội, giao dịch kinh tế của các doanh nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp mình.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy đã có rất nhiều người dân và doanh nghiệp phải rất khó khăn để giành lại một phần quyền lợi của mình khi các hợp đồng do họ soạn thảo, ký kết vì thiếu sự tham vấn pháp luật nên tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý.

Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng thương mại
Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng thương mại

Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng

Hiện nay, trong thực tế, các tranh chấp hợp đồng thường được giải quyết thông qua bốn phương thức chính sau:

  • Thương lượng: là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được giải quyết bằng phương thức này. Nhà nước khuyến khích các bên áp dung phương thức tự thương lượng để giải quyết các tranh chấp trên nguyên tắc tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên.
Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Hợp Đồng
Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Hợp Đồng

Hợp đồng là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện một công việc trong đó có sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để định hướng, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và nội dung thỏa thuận trong hợp đồng.

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra các trường hợp mà quyền và nghĩa vụ của các bên bị xâm phạm, dẫn đến xảy ra tranh chấp. Có thể nói, tranh chấp hợp đồng là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.

Luật Sư Giỏi Về Hợp Đồng
Luật Sư Giỏi Về Hợp Đồng
Trong thời kỳ kinh tế  hiện nay, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng rất dễ xảy ra do nhiều nguyên nhân như: các bên không có thiện chí, không thực hiện đúng, đủ các nội dung hợp đồng do cố ý hay sự tác động của các yếu tố khách quan và nghiêm trọng hơn là thiếu hiểu biết về pháp luật nên ký kết hợp đồng không tuân thủ các quy định dẫn đến hợp đồng vô hiệu.
Khi tranh chấp xảy ra, các bên thường khó có tiếng nói chung trong việc đàm phán hòa giải mà thường dẫn nhau ra tòa án. Với thực trạng chung đó thì vai trò của luật sư rất quan trong trong quá trình giải quyết tranh chấp. Từ việc đàm phám, hòa giải, đến đại diện, tranh tụng tại tòa án.
Chúng tôi, Văn phòng Luật sư  - chuyên sâu trong việc nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế giải quyết tranh chấp hợp đồng, chúng tôi sẽ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng tại một cách hiệu quả nhất. Nội dung dịch vụ của chúng tôi được khái quát như sau:

Giai đoạn tiền tố tụng:

Luật sư của chúng tôi sẽ tư vấn các nội dung:
-         Xác định quan hệ phát sinh tranh chấp;
-         Xác định đối tượng, phạm vi khởi kiện;
-         Định hướng giải quyết vụ việc;
-         Thu thập tài liệu, chứng cứ;
-         Tổ chức hoà giải, thương lượng giữa các bên;
-         Soạn thảo, hoàn thiện Hồ sơ khởi kiện;
-         Nộp Hồ sơ khởi kiện;

Giai đoạn tố tụng:

Luật sư của chúng tôi sẽ tư vấn và tham gia cùng khách hàng trong các công việc sau:
-         Cung cấp chứng cứ và hoàn thiện Hồ sơ vụ án;
-         Soạn thảo đơn, Văn bản cần thiết liên quan tới nội dung tranh chấp;
-         Thương lượng, hoà giải trước và trong giai đoạn tố tụng;
-         Soạn thảo, gửi Văn bản ý kiến bào chữa, bảo vệ khách hàng;
-         Bào chữa, bảo vệ quyền lợi của khách hàng tại phiên toà;

Giai đoạn sau tố tụng:

Luật sư của chúng tôi sẽ tư vấn và tham gia cùng khách hàng trong các công việc sau:
-         Xác định căn cứ khiếu nại, kháng cáo đối với Bản án, Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
-         Soạn thảo Đơn khiếu nại, Đơn kháng cáo;
-         Chuẩn bị Hồ sơ và các tài liệu cần thiết cho các giai đoạn tiếp theo;
-         Nộp đơn yêu cầu thi hành án, hoãn thi hành án ...
-         Đôn đốc, thúc đẩy nhanh chóng quá trình Thi hành án;
-         Đảm bảo quyền lợi của khách hàng được thực thi trọn vẹn.

Các vấn đề được hỗ trợ tư vấn qua tổng đài tư vấn luật doanh nghiệp – thương mại 0972238006

– Tư vấn về các dạng tranh chấp thương mại/ tranh chấp kinh tế/ tranh chấp trong doanh nghiệp

– Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại/ hợp đồng kinh tế/ hợp đồng kinh doanh…

– Tư vấn về tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng nguyên tắc

– Tư vấn về tranh chấp hoạt động đầu tư trong nước và quốc tế

– Tư vấn về cách thức giải quyết tranh chấp hiệu quả

– Tư vấn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại

– Giải quyết tranh chấp thương mại trong nước

– Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế

– Tư vấn giải quyết các tranh chấp thương mại/ tranh chấp nội bộ doanh nghiệp/ tranh chấp kinh tế – kinh doanh…

– Cung cấp dịch vụ Luật sư tư vấn – giải quyết tranh chấp thương mại trong và ngoài nước

2. Cách thức tư vấn

– Cách thứ nhất: TƯ VẤN TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ QUA ĐIỆN THOẠI

Gọi ngay đến Hotline 24/7

Các Luật sư của chúng tôi sẽ tư vấn – hỗ trợ giải quyết giúp bạn! Bạn sẽ nhận được tư vấn ngay lập tức và hoàn toàn miễn phí.

Bằng phương thức này, bạn có thể được: 

– Tư vấn hoàn toàn miễn phí qua điện thoại 

– Tư vấn trực tuyến qua 01 cuộc điện thoại mà không cần phải đi bất cứ đâu

– Có thể tư vấn vào bất cứ lúc nào! Chúng tôi phục vụ tư vấn cả thứ 7, CN và các ngày nghỉ lễ…

– Được giải quyết vấn đề bởi các Luật sư – Chuyên gia – Chuyên viên nhiều kinh nghiệm

Hãy nhấc máy, gọi ngay cho chúng tôi qua Hotline: 0972238006 để được tư vấn – giải đáp ngay lập tức!  

Lưu ý quan trọng: Để đáp ứng nhu cầu tư vấn của quý khách, Hotline tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí 0972238006 để chúng tôi phục vụ tư vấn tất cả các ngày trong tuần, bao gồm cả thứ 7 và Chủ nhật. Quý khách hàng có thể kết nối để tư vấn bất cứ khi nào, ở bất cứ nơi đâu!

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu bạn sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm là đối tác tư vấn pháp luật rất nhiều năm, thường xuyên, liên tục trả lời phỏng vấn trên Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.


ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Luật Sư Tư Vấn Giải Quyết Tranh Chấp Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Giải Quyết Tranh Chấp Hợp Đồng

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn luôn phải đối mặt với những cạnh tranh, tranh chấp từ đối thủ và thị trường cũng như phải đối diện với những tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh từ trong nội bộ của mình. Những tranh chấp, mâu thuẫn này có tác động không nhỏ, trong nhiều trường hợp sẽ ảnh hưởng tới sự chiến lược hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp, đòi hỏi phải được xử lý khoa học, hợp lý, hợp tình. Có những biện pháp giải quyết tranh chấp thương mại như hòa giải, thương lượng, tòa án,… nhưng biện pháp giải quyết tại tòa án vẫn thường được nhắc đến nhiều nhất và mang lại hiệu quả triệt để nhất. Pháp luật đã có những quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án.

 
Tranh chấp thương mại là các tranh chấp phát sinh trong quá trính sản xuất, kinh doanh, nhằm mục đích sinh lợi. Thẩm quyền của tòa án về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại được pháp luật phân định theo vụ việc, theo cấp tòa án, theo lãnh thổ, theo sự lựa chọn của nguyên đơn
 
A. Thẩm quyền theo vụ việc
 
Thẩm quyền theo vụ việc là việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc tranh chấp xảy ra thuộc cơ quan nào: cơ quan quản lý cấp trên, Tòa dân sự hay Tòa kinh tế…
Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 29 Bộ luật tố tụng Dân sự bao gồm:
– Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Đây là các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực: Mua bán hàng hóa; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Đầu tư, tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác.
– Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
– Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
– Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
 
B. Thẩm quyền về cấp xét xử
 
Thẩm quyền theo cấp xét xử là việc phân định thẩm quyền của Tòa án theo cấp của Tòa án, xem xét vụ án đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh hay Tòa án nhân dân tối cao.
* Tòa án nhân dân cấp huyện:
Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:Mua bán hàng hóa;Cung ứng dịch vụ;Phân phối;Đại diện, đại lý;Ký gửi;Thuê, cho thuê, thuê mua;Xây dựng;Tư vấn, kỹ thuật;Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa;
Tuy nhiên, những tranh chấp nói trên mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.
* Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tất cả những vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.
* Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao:
– Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tiến hành phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị.
– Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
– Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét theo trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới.
 
C. Thẩm quyền theo lãnh thổ
 
Thẩm quyền giải quyết vụ án kinh doanh thương mại của Tòa án theo lãnh thổ được xác định là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về kinh doanh, thương mại.
Tuy nhiên, Luật cũng cho phép các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điều 29 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Trong trường hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản, thì Tòa án nơi có bất động sản giải quyết.
 
D. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
 
Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án để yêu cầu giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:
- Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn giải quyết vụ án;
- Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh đó giải quyết vụ án;
- Nếu vụ án phát sinh từ quan hệ hợp đồng, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết vụ án;
- Nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú của một trong các bị đơn giải quyết vụ án;
- Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
 
Như vậy, theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật TTDS thì trong một số trường hợp nhất định, có nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết một vụ án kinh doanh, thương mại cụ thể và nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong các Tòa án đó. Để tránh việc có tranh chấp về thẩm quyền, thì Tòa án nào thuộc một trong các Tòa án có thẩm quyền mà nhận được đơn khởi kiện trước tiên của nguyên đơn, đã dự tính tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn và nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí, có thẩm quyền thụ lý vụ án theo đúng quy định.

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu bạn sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm là đối tác tư vấn pháp luật rất nhiều năm, thường xuyên, liên tục trả lời phỏng vấn trên Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.


ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
 
 
 
Vùng tệp đính kèm
 
 
 
Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Cho Thuê Nhà Xưởng
Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Cho Thuê Nhà Xưởng

Quyết định giám đốc thẩm số 11/2008/KDTM-GĐT ngày 31-7-2008 về vụ án tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

….


Ngày 31 tháng 7 năm 2008, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài sản (nhà, xưởng và công trình kiến trúc khác…) giữa:


Nguyên đơn: Công ty Điện máy, xe đạp, xe máy (TODIMAX) Bộ Thương mại( nay là Bộ Công thương); có trụ sở tại 163 Đại La, quận Hai Bà Trưng, thành  phố Hà Nội; do các ông Bùi Hồng Công(Phó Giám đốc Công ty) và ông Chu Mạnh Cường (cán bộ Công ty) làm đại diện theo Giấy ủy quyền số 38 GYQ ngày 01-11-2005 của Giám đốc Công ty.

           

Bị đơn: Công ty TNHH Thùy Anh (sau đây gọi tắt là Công ty Thùy Anh); có trụ sở tại 42 ngõ phố Đức Giang, phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; do ông Nguyễn Thành Long làm đại diện theo Giấy ủy quyềnn ngày 20-11-2006 của Giám đốc Công ty.

 

NHẬN THẤY:

           

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24-8-2005 của TODIMAX (BL. 71), lời trình bày và các tài liệu, chứng cứ do các đương sự xuất trình trong quá trình giải quyết vụ án này thấy:

           

Ngày 01-8-2001 TODIMAX (Bên A) ký  hợp đồng cho Công ty Thùy Anh ( Bên B) thuê “diện tích 2.000m2 đất trong đó có một nhà hai tầng và ba dãy nhà xưởng (có phục lục chi tiết bàn giao cụ thể như sơ đồ và thực trạng của mặt bằng, nhà xưởng…”) tại số 42 ngõ 67 tổ 21 thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm ( nay là phố Đức Giang,  phường Đức Giang , quận Long Biên), thành phố Hà Nội để sản xuất, kinh doanh; thời hạn cho thuê tính từ ngày 01-9-2001 đến ngày 30-8-2006; tiền thuê nhà đất là 14.000.000 đồng/ tháng; bên B ( Công ty Thùy Anh) có trách nhiệm thanh toán đầy đủ, kịp thời tiền thuê nhà cho bên A (TODIMAX); nếu chậm thanh toán 03 tháng liền, bên A có quyền hủy hợp đồng và giữ lại tài sản trị giá bằng số tiền mà bên B nợ bên A…(BL. 39, 43).

           

Do Công ty Thùy Anh vi phạm hợp đồng: tự ý sửa chữa, xây dựng, cơi nới thêm nhà xưởng, nợ tiền thuê kho, mặt bằng ba tháng liền nhiều kỳ, đã được nhắc nhở nhiều lần bằng văn bản nhưng vẫn cố tình vi phạm, nên ngày 11-6-2004 TODIMAX có Công văn số 71/ĐM-XDXM thông báo cho Công ty Thùy Anh về việc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu Công ty Thùy Anh trả lại toàn bộ nhà đất đang thuê (BL. 31); ngày 24-8-2005 TODIMAX có đơn khởi kiện yêu cầu:

          

  -Công ty Thùy Anh phải thanh toán số tiền lãi do chậm thanh toán kể từ  tháng 4/2005 (16 tháng) là 224.000.000 đồng;

           

- Công ty Thùy Anh phải chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và bàn giao lại mặt bằng cho TODIMAX (BL. 71).

           

Công ty Thùy Anh thừa nhận giữa hai bên có ký hợp đồng cho thuê nhà, xưởng và công trình kiến trúc khác tọa lạc trên diện tích 2.000m2 đất như TODIMAX trình bày và công nhận còn nợ số tiền thuê nhà đất từ tháng 6/2004 đến tháng 12/2005 là 252.000.000 đồng ( do ngày 30-8-2005 Công ty Thùy Anh đã thanh toán tiếp được 42 triệu đồng tiền thuê nhà đất của các tháng 4+5+6/2004) hứa sẽ thanh toán trong thời gian gần nhất , nhưng không đồng ý về việc tính lãi và yêu cầu được tiếp tục thực hiện hết thời hạn hợp đồng (BL. 89,90,100).     

           

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 43/2006/KDTM-ST ngày 24-5-2006 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

            

“…1.Chấp nhận yêu cầu đơn phương hủy bỏ hợp đồng ngày 01-8-2001 giữa Công ty Điện máy xe đạp xe máy và Công ty TNHH Thùy Anh. Hợp đồng chấm dứt từ ngày 24-5-2006;

           

2.Buộc Công ty TNHH Thùy Anh phải bàn giao toàn bộ nhà xưởng theo hợp đồng ngày 01-8-2001 và Biên bản bàn giao ngày 29-8-2001 giữa Công ty TNHH Thùy Anh và Công ty Điện máy xe đạp xe máy;

          

  3.Buộc Công ty TNHH Thùy Anh phải thanh toán cho Công ty Điện máy xe đạp xe máy tiền thuê nhà xưởng từ tháng 7/2004 đến tháng 4/2006 là 308.000.000 đồng…”

          

  Ngày 02-6-2006, Công ty Thùy Anh nhận được bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 43/2006/KDTM-ST ngày 24-5-2006 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; ngày 13-6-2006 và ngày 18-9-2006, Công ty có đơn kháng cáo toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm.

           

Tại bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 214/2006/KDTM-PT ngày 21-11-2006 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định giữ nguyên quyết định của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nêu trên.

          

  Ngày 20-12-2006, Công ty Thùy Anh có đơn đề nghị xét lại bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

           

Tại Quyết định kháng nghị số 07/KN-VKSTC-V12 ngày 28-4-2008 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 214/2006/KDTM-PT ngày 21-11-2006 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 43/2006/KDTM-ST ngày 24-5-2006 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung, với nhận định(tóm tắt):

            

-Tại điều 2 của “Hợp đồng thuê nhà để sản xuất” ngày 01-8-2001 có nội dung: “Diện tích cho thuê được thỏa thuận theo đơn giá 7.000 đ/m2/ tháng x2.000m2 = 14.000.000 đ”.

           

Với thỏa thuận như trên thì đây là hợp đồng cho thuê đất.

           

-Việc Tòa án sơ thẩm và cấp phúc thẩm nhận định diện tích đất, nhà xưởng Công ty Điện máy xe đạp xe máy ký hợp đồng cho Công ty Thùy Anh thuê thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên cho thuê là không đúng;

           

 -Tại thời điểm Công ty Điện máy xe đạp xe máy ký “Hợp đồng cho thuê nhà để sản xuất” (ngày 01-8-2001 và cho đến nay) Công ty này không có đủ các điều kiện về  quyền sử dụng đất để ký hợp đồng cho thuê đất hoặc cho thuê lại đất theo các quy định của pháp luật và Công ty này không thực hiện đúng “Trách nhiệm của người sử dụng đất” được quy định tại Điều 41 Nghị định số 17/1999/NĐ-CP của Chính Phủ.

           

Như vậy, Hợp đồng thuê nhà xưởng để sản xuất” ngày 01-8-2001 giữa Công ty Điện máy xe đạp  xe máy và Công ty Thùy Anh là trái pháp luật. Việc cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm không tuyên bố hợp đồng thuê đất này là hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không đúng;

           

-Trong trường hợp “Hợp đồng thuê nhà xưởng để sản xuất” ngày 01-8-2001 là hợp đồng thuê nhà như bản án sơ thẩm và phúc thẩm nhận định thì hợp đồng này phải đảm bảo hình thức và nội dung của hợp đồng thuê nhà theo quy định của pháp luật…”Hợp đồng thuê nhà xưởng để sản xuất giữa Công ty Điện máy xe đạp xe máy và Công ty Thùy Anh ngày 01-8-2001 có thời hạn 05 năm nhưng không có chứng nhận của Công chứng Nhà nước; không có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và cũng không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

           

-Đối chiếu với khoản 4 Điều 131 về “ Điều kiện có hiệu lực giao dịch dân sự và các Điều 133, 136 , 139, 146 Bộ luật dân sự năm 1995 (tương ứng với khoản 2 Điều 122 và các Điều 124, 127, 134, 137 Bộ luật dân sự năm 2005) thì hợp đồng cho thuê nhà xưởng nêu trên bị vô hiệu ngay tại thời điểm ký kết.

           

Do vậy, việc Tòa án cả hai cấp sơ  thẩm và phúc thẩm buộc Công ty Thùy Anh phải trả 308 triệu đồng tiền thuê nhà xưởng còn thiếu cho Công ty Điện máy xe đạp xe máy là không có căn cứ và trái pháp luật.

           

Ngày 15-5-2008 TODIMAX có đơn khiếu nại Quyết định kháng nghị số 07/KN-VDSTC-V12 ngày 28-4-2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.


XÉT THẤY:

           

Tiêu đề của hợp đồng được hai bên thống nhất là “ Hợp đồng thuê nhà để sản xuất” có nội dung: “…hợp đồng thuê diện tích 2.000m2 đất trong đó có một nhà hai tầng và 3 dãy nhà xưởng…”. TODIMAX đã bàn giao tài sản cho thuê theo Biên bản bàn giao ngày 29-8-2001 gồm khu nhà hai tầng (tổng diện tích xây dựng và sử dụng 342,72 m2),hai dãy nhà xưởng (tổng diện tích xây dựng 620,67m2), lán chống không tường bao (diện tích xây dựng 341,90 m2), lán làm thêm (diện tích xây dựng 57,20m2), nhà văn phòng kho làm việc ( diện tích xây dựng 64,30m2), nhà bảo vệ ở cổng (diện tích xây dựng 7,5 m2), khu cổng chính vệ sinh (diện tích xây dựng và lưu kho 40m2), bể nước …tọa lạc trên diện tích 2.0002 đất (BL.39-43).

           

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác định là thuê nhà, xưởng gắn liền với quyền sử đụng đất.

           

Với các tài liệu, chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ kết luận Tòa án các cấp xác định Hợp đồng ngày 01-8-2001 giữa TODIMAX với Công ty Thùy Anh là hợp đồng cho thuê tài sản ( nhà , xưởng và công trình kiến trúc khác) gắn liền với quyền sử dụng đất là đúng, không phải là hợp đồng cho thuê đất.

           

Việc chỉ dựa vào một nội dung trong hợp đồng là “…Diện tích cho thuê được thỏa thuận theo đơn giá 7.000 đ/m2/ tháng; thành tiền: 7.000 đ/m2/ tháng x2.000 m2 = 14.000.000 đ” để xác định đây là hợp đồng cho thuê đất là đánh giá không đầy đủ, toàn diện về hợp đồng này.

           

Theo Tờ khai sử dụng đất ( không đề ngày, tháng) năm 1996 (Bộ Thương mại xác nhận ngày 14-7-1996) của TODIMAX (BL. 51); Công văn số 73 của Ủy ban nhân dân thì trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm(nay là phường Đức Giang, quận Long Biên), thành phố Hà Nội (BL. 57); Biên bản kiểm tra vị trí, xác định giá đất, giá thuê đất ngày 13-10-1998 của liên ngành Sở Địa chính – Sở tài chính vật giá- Cục thuế thành phố Hà Nội và TODIMAX (BL.55); Văn bản số 1791TM/KH-ĐT ngày 24-3-2006 của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) thì diện tích nhà , xưởng và công trình kiến trúc  khác tọa lạc trên diện tích 2.000m2 mà TODIMAX cho Công ty Thùy Anh  thuê nằm trong hệ thống kho bãi chứa hàng thuộc Tổng kho Đức Giang có tổng diện tích 17.757m2 được Bộ Nội thương (cũ) giao cho TODIMAX quản lý, sử dụng từ năm 1957 đến nay. Như vậy các cơ quan của Nhà Nước đều công nhận TODIMAX sử  dụng hợp pháp diện tích này từ năm 1957 đến khi ký hợp đồng cho thuê ; thực tế không ai tranh chấp quyền sử dụng đất với TODIMAX.

           

Mặt khác, theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh doanh nghiệp nhà nước số 109778 của Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp cho TODIMAX (đăng ký khi thay đồi kinh doanh lần thứ 2 vào ngày 31-12-1998) và Quyết định số 1537/1998/QĐ-BTM ngày 12-12-1998 của Bộ Thương mại ( nay là Bộ Công thương) thì TODIMAX được phép cho thuê văn phòng làm việc, kho hàng (BL. 46, 63, 116) và theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì TODIMAX đã báo cáo Bộ Thương mại (là cơ quan chủ quản) về việc ký hợp đồng cho thuê này (BL.116).

           

Hợp đồng thuê nhà để sản xuất ngày 01-8-2001 được lập thành văn bản và được ký kết bởi người có thẩm quyền là Giám đốc của hai Công ty, không vi phạm điều cấm của pháp luật; TODIMAX được phép cho thuê văn phòng làm việc, kho hàng.

             

Do trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Thùy Anh nhiều kỳ không trả tiền thuê đúng  hạn, vi phạm hợp đồng nên TODIMAX yêu cầu chấm dứt hợp đồng trước thời hạn là có căn cứ. Mặt khác, hiện nay Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã có thông báo thu hồi đất đối với TODIMAX. Khi chấm dứt hợp đồng, Công ty Thùy Anh phải thanh toán đầy đủ tiền thuê tài sản và phải trả lại toàn bộ các loại tài sản tọa lạc trên diện tích 2.000m2 đất tại số 42 ngõ 67 tổ 21 thì trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm (nay là phố Đức Giang, phường Đức Giang, quận Long Biên), thành phố Hà Nội mà Công ty Thùy Anh đã nhận theo hợp đồng và biên bản cho TODIMAX.

          

  Tòa án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của TODIMAX buộc Công ty  Thùy Anh phải bàn giao toàn bộ nhà xưởng và trả tiền đã thuê  nhà xưởng từ tháng 7/2004 đến tháng 4/2006 là 308.000.000 đồng cho TODIMAX là có căn cứ, đúng pháp luật.

         

  Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 1 Điều 297 Bộ luật tố tụng dân sự.


QUYẾT ĐỊNH:

           

1.Không chấp nhận kháng nghị số 07/KN-VKSTC-V12 ngày 28-4-2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 241/2006/KDTM-PT ngày 21-11-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội;

          

  2.Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 241/2006/KDTM-PT ngày 21-11-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội

 

Lý do không chấp nhận kháng nghị  của Viện trưởng VKSTNDTC:

           

Hợp đồng tranh chấp là hợp đồng thuê nhà , xưởng để sản xuất gắn liền với quyền sử dụng đất chứ không phải là “hoạt động cho thuê đất”, do đó, Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng này là đúng pháp luật.

 

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Nhà Xưởng
Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Nhà Xưởng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số: 95/2006/KDTM-ST

Ngày: 24/05/2006

v/v: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                         

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:  

1. Ông Nguyễn Nhật Lâm - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

2. Bà Đào Thị Mai - Hội thẩm nhân dân

3. Bà Cẩm Tú Cầu - Hội thẩm nhân dân

Bà Võ Thị Hường – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội - Thư ký phiên toà.

Ngày 24 tháng 5 năm 2006 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2006/TLST-KDTM ngày 12 tháng 10 năm 2005 về Tranh chấp Hợp đồng thuê nhà xưởng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/KDTM/QĐXX-PT ngày 15 tháng 5 năm 2006 giữa các đương sự:

NGUYÊN ĐƠN:
Công ty kinh doanh thương mại xe

Trụ sở: 163 Đại La, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

Ông Phạm Vũ Cường – theo giấy ủy quyền số 38 – GYQ ngày 01/11/2005 của Giám đốc Công ty – Có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

Luật sư Phạm Long Hải – có mặt

Và luật sư Lê Trung Kiên – có mặt

BỊ ĐƠN:
Công ty TNHH Kim Tâm

Trụ sở: 42 ngõ 67 phố Đức Giang, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Hạ Thị Hồ – vắng mặt

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 8 năm 2005 và tại các lời khai, nguyên đơn, Công ty kinh doanh thương mại xe trình bày: Nguyên đơn có ký hợp đồng cho bị đơn – Công ty TNHH Kim Tâm thuê nhà xưởng để làm việc tại 42 ngõ 67 phố Đức Giang, Long Biên, Hà Nội. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê theo hợp đồng, nên nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn chấm dứt hợp đồng với các yêu cầu sau:


Tư Vấn Khởi Kiện Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa
Tư Vấn Khởi Kiện Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

THẨM QUYỀN

Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định

TRÌNH TỰ THỰC HIỆN

 

 

Bước 1:

Nộp đơn (hồ sơ khởi kiện) tại TAND có thẩm quyền

Bước 2:

Tiếp nhận đơn và hồ sơ khởi kiện, sau đó ra thông báo nộp tạm ứng án phí

Bước 3:

Đương sự nộp biên lai nộp tạm ứng án phí cho Tòa án, thẩm phán phụ trách ra quyết định thụ lý vụ án và gửi thông báo thụ lý tới các đương sự và Viện kiểm sát.

Bước 4:

Các bên đương sự có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung khởi kiện trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

CÁCH THỰC HIỆN

Nộp trực tiếp hoặc nộp qua đường bưu điện.

HỒ SƠ

 

 

Số lượng:

01 bộ hồ sơ

Thành phần:

1.   Đơn khởi kiện

2.   Các tài liệu chứng minh chủ thể trong quan hệ mua bán có tranh chấp

3.   Tài liệu chứng minh tư cách hợp pháp của người ký đơn khởi kiện

4.   Hợp đồng mua bán hoặc văn bản tài liệu giao dịch có giá trị như Hợp đồng, biên bản bổ sung, phụ lục Hợp đồng (nếu có)

5.   Tài liệu về bảo đảm thực hiện Hợp đồng như bảo lãnh, thế chấp, cầm cố (nếu có)

6.   Các chứng cứ tài liệu chứng minh cho việc thực hiện nghĩa vụ của các bên: Việc giao nhận hàng, biên bản nghiệm thu, chứng từ thanh toán, biên bản thanh lý hợp đồng, các biên bản làm việc về công nợ tồn đọng,…

7.   Các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho lỗi/sự vi phạm nghĩa vụ của một/các bên

8.   Các tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp khác (nếu có)

9.   Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao)

10. Biên lai nộp lệ phí hoặc tiền tạm ứng án phí (sau đó)

Lưu ý: Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc. Các văn bản tài liệu khác nếu nộp bản sao thì phải được xác nhận sao y bản chính.

ĐỐI TƯỢNG THỰC HIỆN

      Cá nhân/Tổ chức

PHÍ HÀNH CHÍNH

1.   Mức án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với các vụ án kinh doanh thương mại không có giá ngạch là 200.000 đồng.

2.   Mức án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với các vụ án lao động có giá ngạch theo quy định

KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Thông báo thụ lý vụ án

Quyết định đưa vụ án ra xét  xử

THỜI HẠN GIẢI QUYẾT

-     Thời hạn chuẩn bị xét xử từ 2 đến 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án

-     Thời hạn mở phiên tòa từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

CĂN CỨ PHÁP LÝ

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

      Luật Thương mại năm 2005

Pháp lệnh số: 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/2/2009 về án phí, lệ phí Tòa án

Án lệ số 14/2017/AL về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng
Án lệ số 14/2017/AL về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng

Án lệ số 14/2017/AL về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng

ÁN LỆ SỐ 14/2017/AL VỀ CÔNG NHẬN ĐIỀU KIỆN CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT MÀ ĐIỀU KIỆN ĐÓ KHÔNG ĐƯỢC GHI TRONG HỢP ĐỒNG

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 02/2011/DS-GĐT ngày 17-01-2011 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại tỉnh Điện Biên giữa nguyên đơn là ông Quàng Văn P1 với bị đơn là anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V.

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 10, 11 và 12 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ:

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không ghi điều kiện tặng cho nhưng tại các văn bản, tài liệu khác có liên quan thể hiện các bên đã có thỏa thuận, thống nhất về điều kiện tặng cho và điều kiện tặng cho là hợp pháp.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, Tòa án phải công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đó là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện.

Quy định của pháp luật có liên quan đến án lệ:

Điều 125, Điều 126 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 120, Điều 121 và Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27-12-2006, ngày 10-01-2007 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Quàng Văn P1 và chị Quàng Thị N trình bày:

Năm 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên cấp cho ông 72m2 đất mặt đường quốc lộ 279 (theo Quyết định số 1487 ngày 25-9-2003). Ngày 24-12-2003, ông lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Quàng Văn P2 (là con trai của ông) và chị Phan Thị V (là con dâu của ông) diện tích đất nêu trên. Ngày 06-12-2003, ông lại lập hợp đồng chuyển quyền sở hữu đất nhà ở cho anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V diện tích đất nêu trên, có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Điện Biên.

Năm 2005, giữa ông và chị Quàng Thị N (là con gái của ông) có tranh chấp diện tích đất này nên tại Bản án dân sự phúc thẩm số 08/DSPT ngày 24-8-2005, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã buộc chị Quàng Thị N phải trả cho ông diện tích đất nêu trên.

Ngày 12-6-2006, Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Điện Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông.

Ngày 27-10-2006, ông làm hợp đồng tặng cho anh Quàng Văn P2 (là con trai của ông) với điều kiện anh Quàng Văn P2 phải xây nhà cho ông ở.

Khi ông hoàn tất thủ tục sang tên theo hợp đồng tặng cho, anh Quàng Văn P2 đã không thực hiện việc xây nhà như đã hứa mà còn yêu cầu ông ra thị trấn M, huyện G ở nên yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho đất vì anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V không thực hiện điều kiện đã cam kết.

Bị đơn là anh Quàng Văn P2 và chị Phan Thị V trình bày: Ông Quàng Văn P1 (là bố của anh) đã tặng cho vợ chồng anh diện tích đất nêu trên từ khi ông Quàng Văn P1 còn minh mẫn, tỉnh táo. Nay ông Quàng Văn P1 không còn minh mẫn thì chị Quàng Thị N (là chị gái của anh) ép ông Quàng Văn P1 làm đơn hủy hợp đồng tặng cho. Việc bố cho anh đất không có điều kiện và cam kết gì nên không chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2007/DSST ngày 30-6-2007, Tòa án nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu của ông Quàng Văn P1 về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 82 ngày 06-10-2006, giữa bên chuyển nhượng là ông Quàng Văn P1, bên nhận chuyển nhượng anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 14/2007/DSPT ngày 28-8-2007, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên quyết định: Sửa Bản án sơ thẩm số 03/2007/DSST ngày 30-6-2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Quàng Văn P1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 82 ngày 06-10-2006 giữa người chuyển nhượng ông Quàng Văn P1 với người nhận chuyển nhượng anh Quàng Văn P2 đối với mảnh đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 762/197 thửa đất 2A, tờ bản đồ 289 IV-D-d tổ dân phố 8, phường T, thành phố P, tỉnh Điện Biên.

Kiến nghị với Phòng Tài nguyên và Môi trường của thành phố P, tỉnh Điện Biên phải đính chính khôi phục lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với người đứng tên sử dụng đất ông Quàng Văn P1 số AĐ 762/197 thửa đất 2A, tờ bản đồ 289 IV-D-d tổ dân phố 8, phường T, thành phố P, tỉnh Điện Biên.

Kiến nghị với Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P, tỉnh Điện Biên thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với anh Quàng Văn P2 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 06445/QSDĐ. Quyết định cấp số: 822/2006/QĐ-UBND ngày 27-10-2006 đối với thửa đất số 2A tờ bản đồ số 289-IV-D-d tại tổ dân phố 8, phường T, thành phố P, tỉnh Điện Biên.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Quàng Văn P2 có đơn khiếu nại đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 579/2010/KN-DS ngày 26-8-2010, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 14/2007/DSPT ngày 28-8-2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2007/DSST ngày 30-6-2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật với nhận định:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nguồn gốc 72m2 đất thửa 2A, tờ bản đồ 289 IV-D-d tổ dân phố 8, phường T, thành phố P, tỉnh Điện Biên là của ông Quàng Văn P1 được chính quyền địa phương cấp để làm nhà ở theo giấy cấp đất số 1487 ngày 25-9-2003.

Ngày 06-12-2003, ông Quàng Văn P1 lập giấy chuyển quyền sở hữu lô đất cho vợ chồng anh Quàng Văn P2, có chữ ký của ông Quàng Văn P1, vợ chồng anh Quàng Văn P2, nhân chứng là Bí thư Chi bộ, Khối trưởng và xác nhận của Ủy ban nhân dân phường.

Ngày 24-12-2003, ông Quàng Văn P1 lại có "Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” vẫn có nội dung chuyển quyền sử dụng diện tích đất cho vợ chồng anh Quàng Văn P2, có chữ ký của ông Quàng Văn P1 và xác nhận của trưởng phố.

Tuy nhiên, diện tích đất trên giữa ông Quàng Văn P1 với chị Quàng Thị N đang có tranh chấp. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 08/DSPT ngày 24-8-2005, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên mới buộc chị Quàng Thị N trả diện tích đất cho ông Quàng Văn P1 và tại “Biên bản giải quyết việc thi hành án" ngày 22-3-2006 thì chị Quàng Thị N mới trả đất cho ông Quàng Văn P1.

Như vậy có cơ sở để xác định tuy từ năm 2003 ông Quàng Văn P1 lập giấy cho vợ chồng anh Quàng Văn P2, nhưng ở tại thời điểm này chị Quàng Thị N vẫn là người quản lý và sử dụng đất; đến ngày 24-8-2005 ông Quàng Văn P1 mới được xác định là người có quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất trên (theo quyết định có hiệu lực của Tòa án) và đến ngày 22-3-2006 ông Quàng Văn P1 mới thực tế nhận đất. Do đó, việc ông Quàng Văn P1 làm giấy tặng cho anh Quàng Văn P2 trước đó là không có giá trị pháp lý, hơn nữa vợ chồng anh Quàng Văn P2 cũng chưa làm được thủ tục sang tên, chưa nhận đất.

Sau khi nhận đất, ngày 25-3-2006 ông Quàng Văn P1 mới ủy quyền cho anh Quàng Văn P2 xin giấy phép xây dựng, giải phóng mặt bằng, xây nhà cho ông Quàng Văn P1 ở và chăm sóc cụ K (cha của ông Quàng Văn P1). Ngày 12-6-2006 ông Quàng Văn P1 mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 03-6-2006, tại thành phố Hà Nội ông Quàng Văn P1 lại ủy quyền cho anh Nguyễn Viết H làm thủ tục để ông Quàng Văn P1 tặng cho vợ chồng anh Quàng Văn P2 diện tích đất nêu trên.

Tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 82/HĐ-UBND (không ghi ngày tháng) tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Điện Biên thể hiện ông Quàng Văn P1 cho anh Quàng Văn P2 diện tích đất trên. Hợp đồng trên có chữ ký đề tên ông Quàng Văn P1, anh Quàng Văn P2, người được ủy quyền là anh Nguyễn Viết H. Nhưng Ủy ban nhân dân phường lại có xác nhận vào hồi 8h ngày 06-10-2006. Trên cơ sở hợp đồng trên anh Quàng Văn P2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong thực tế từ ngày 17-02-2003, ông Quàng Văn P1 bị bệnh phải điều trị tại thành phố Hà Nội (tai biến mạch máu não, liệt nửa người bên trái, liệt thần kinh trung ương...).

Như vậy, trong năm 2006 ông Quàng Văn P1 đã ký nhiều văn bản để định đoạt 72m2 đất mà ngày 12-6-2006 ông được cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, ông Quàng Văn P1 đang ở thành phố Hà Nội đang bị liệt thần kinh trung ương, liệt nửa người và ông Quàng Văn P1 cũng chưa hề sử dụng đất.

Lẽ ra, phải làm rõ, xác định ý chí của ông Quàng Văn P1 về việc định đoạt 72 m2 đất này, xem xét đánh giá ông Quàng Văn P1 có ý chí cho anh Quàng Văn P2 hay ông Quàng Văn P1 chỉ giao cho anh Quàng Văn P2 xây cất nhà để ở. Đồng thời làm rõ ông Quàng Văn P1 ký hợp đồng khi nào? ở đâu? giá trị pháp lý của hợp đồng này, lý do ông Quàng Văn P1 ký hợp đồng nay lại xin hủy hợp đồng. Nếu ông Quàng Văn P1 chỉ giao cho anh Quàng Văn P2 xây cất nhà để ông ở và ông Quàng Văn P1 có nhu cầu sử dụng đất thì phải hủy hợp đồng trên, công nhận ông Quàng Văn P1 có quyền sử dụng đất, nhưng ông Quàng Văn P1 phải thanh toán các chi phí hợp lý trong việc làm thủ tục sang tên đất nếu anh Quàng Văn P2 có yêu cầu.

Trong trường hợp ông Quàng Văn P1 không có nhu cầu sử dụng và thể hiện ý chí đã cho anh Quàng Văn P2 thì phải bác yêu cầu của ông Quàng Văn P1.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ các vấn đề nêu trên, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các văn bản do ông Quàng Văn P1 ký và việc anh Quàng Văn P2 được công nhận có quyền sử dụng đất để bác yêu cầu của ông Quàng Văn P1, còn Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng ông Quàng Văn P1 bị bệnh không nhận thức được hành vi khi ký kết các văn bản và thủ tục tặng cho không tuân thủ các quy định của pháp luật, từ đó, hủy hợp đồng chuyển nhượng, công nhận ông Quàng Văn P1 có quyền sử dụng đất đều chưa đủ căn cứ.

Ngoài ra, Ủy ban nhân dân mới là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại kiến nghị Phòng Tài nguyên và Môi trường thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Quàng Văn P2 là không chính xác.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là cần thiết vì năm 2003 ông Quàng Văn P1 có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Quàng Văn P2 và năm 2006 lập giấy ủy quyền tặng cho đất cho vợ chồng anh Quàng Văn P2, tuy giấy tờ ghi chuyển nhượng quyền sử dụng, nhưng đều thể hiện nội dung là ông Quàng Văn P1 tặng cho vợ chồng anh Quàng Văn P2. Vì vậy, cần làm rõ việc tặng cho của ông Quàng Văn P1 có điều kiện hay không để giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Khi khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Quàng Văn P1 cho rằng ngày 25-9-2003 Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên cấp cho ông 72m2 đất tại thửa 2A, tờ bản đồ 289 IV-D-d tổ dân phố 8, phường T, thành phố P, tỉnh Điện Biên theo Quyết định số 1487.

[2] Ngày 06-12-2003, ông Quàng Văn P1 lập giấy chuyển quyền sở hữu lô đất cho vợ chồng anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V có Bí thư Chi bộ, Khối trưởng chứng kiến và có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T.

[3] Ngày 24-12-2003, ông Quàng Văn P1 lại có “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” chuyển quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V, có xác nhận của trưởng phố.

[4] Tuy nhiên, diện tích đất nêu trên chị Quàng Thị N (là con gái của ông Quàng Văn P1) đang quản lý, sử dụng. Năm 2005 ông Quàng Văn P1 đã khởi kiện yêu cầu chị Quàng Thị N phải trả cho ông diện tích đất nêu trên. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 08/DSPT ngày 24-8-2005, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã buộc chị Quàng Thị N trả lại đất cho ông Quàng Văn P1.

[5] Ngày 12-6-2006, Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Điện Biên đã cấp giấy chứng nhận cho ông Quàng Văn P1 được quyền sử dụng 72m2 đất nêu trên.

[6] Ngày 15-9-2006, ông Quàng Văn P1 có đơn xin xác nhận việc ông ủy quyền cho anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V được toàn quyền “Sở hữu và sử dụng đất”.

[7] Ngày 03-10-2006, ông Quàng Văn P1 lập hợp đồng ủy quyền cho anh Nguyễn Viết H làm thủ tục tặng cho anh Quàng Văn P2 diện tích đất nêu trên, có chứng thực của Phòng Công chứng Nhà nước số 3, thành phố Hà Nội.

[8] Ngày 06-10-2006, ông Quàng Văn P1 lại lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V, mục giá trị chuyển nhượng ghi “Bố cho con”; Ủy ban nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ đã xác nhận số 82/HĐ-UBND cùng ngày nên hợp đồng này thể hiện hợp pháp hóa việc ông Quàng Văn P1 tặng cho anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V quyền sử dụng đất.

[9] Ngày 27-10-2006, Ủy ban nhân dân thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Quàng Văn P2, chị Phan Thị V.

[10] Như vậy, nếu có căn cứ xác định cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại địa phương cấp đất cho ông Quàng Văn P1 từ năm 2003 (vì Tòa án các cấp chưa thu thập quyết định cấp đất năm 2003), thì ông Quàng Văn P1 có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất nêu trên từ năm 2003 nên ông Quàng Văn P1 có quyền định đoạt tài sản của mình.

[11] Tuy nhiên, ông Quàng Văn P1 cho rằng việc ông tặng cho vợ chồng anh Quàng Văn P2 là có điều kiện, đó là vợ chồng anh Quàng Văn P2 phải làm nhà cho ông ở, chăm sóc ông và bố, mẹ của ông, nhưng vợ chồng anh Quàng Văn P2 không thực hiện cam kết. Tuy anh Quàng Văn P2 không thừa nhận việc ông Quàng Văn P1 tặng cho có điều kiện, nhưng tại giấy ủy quyền ngày 25-3-2006, thể hiện ông Quàng Văn P1 ủy quyền cho anh Quàng Văn P2 xin giấy phép xây dựng... có trách nhiệm xây nhà trên lô đất 379B để ông Quàng Văn P1 ở, có trách nhiệm chăm sóc vợ chồng cụ K (là bố, mẹ của ông Quàng Văn P1). Tại bản Cam kết ngày 12-10-2006, anh Quàng Văn P2 có ghi "... Tôi được bố cho mảnh đất...tôi làm cam kết này với chính quyền địa phương sẽ tiến hành xây dựng nhà ở cho bố tôi và không được chuyển nhượng cho ai”.

[ 12] Mặc dù hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không ghi điều kiện nhưng tại các văn bản nêu trên có thể hiện anh Quàng Văn P2 phải làm nhà cho ông Quàng Văn P1 ở, chăm sóc ông Quàng Văn P1 và bố mẹ của ông Quàng Văn P1.

[13] Do vậy, cần thu thập xác minh anh Quàng Văn P2 có thực hiện đầy đủ các điều kiện trên hay không? Thời gian ông Quàng Văn P1 đi điều trị tại bệnh viện thì ai là người chăm sóc ông Quàng Văn P1? Hiện vợ chồng anh Quàng Văn P2 đang cư trú tại Hà Nội, thì điều kiện chăm sóc vợ chồng cụ K (bố, mẹ ông Quàng Văn P1) như thế nào? Trên cơ sở xác định việc thực hiện các điều kiện của vợ chồng anh Quàng Văn P2 để xác định hợp đồng tặng cho giữa ông Quàng Văn P1 và vợ chồng anh Quàng Văn P2 đã hoàn thành hay chưa hoàn thành để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[14] Mặt khác, theo quy định tại Điều 44 Luật Đất đai, thì Phòng Tài nguyên và Môi trường không có thẩm quyền thu hồi đất nên Tòa án cấp phúc thẩm kiến nghị Phòng Tài nguyên và Môi trường thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Quàng Văn P2 là không đúng pháp luật.

[15] Hội đồng giám đốc thẩm Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao thấy cần hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

[16] Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ.

[17] Căn cứ vào khoản 2 Điều 291, Điều 296, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 14/2007/DSPT ngày 28-8-2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2007/DSST ngày 30-6-2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên về vụ án “Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Quàng Văn P1 với bị đơn là anh Quàng Văn P2 và chị Phan Thị V.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“[10] Như vậy, nếu có căn cứ xác định cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại địa phương cấp đất cho ông Quàng Văn P1 từ năm 2003 (vì Tòa án các cấp chưa thu thập quyết định cấp đất năm 2003), thì ông Quàng Văn P1 có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất nêu trên từ năm 2003 nên ông Quàng Văn P1 có quyền định đoạt tài sản của mình.

[11] Tuy nhiên, ông Quàng Văn P1 cho rằng việc ông tặng cho vợ chồng anh Quàng Văn P2 là có điều kiện, đó là vợ chồng anh Quàng Văn P2 phải làm nhà cho ông ở, chăm sóc ông và bố, mẹ của ông, nhưng vợ chồng anh Quàng Văn P2 không thực hiện cam kết. Tuy anh Quàng Văn P2 không thừa nhận việc ông Quàng Văn P1 tặng cho có điều kiện, nhưng tại giấy ủy quyền ngày 25-3-2006, thể hiện ông Quàng Văn P1 ủy quyền cho anh Quàng Văn P2 xin giấy phép xây dựng... có trách nhiệm xây nhà trên lô đất 379B để ông Quàng Văn P1 ở, có trách nhiệm chăm sóc vợ chồng cụ K (là bố, mẹ của ông Quàng Văn P1). Tại bản Cam kết ngày 12-10-2006, anh Quàng Văn P2 có ghi "... Tôi được bố cho mảnh đất...tôi làm cam kết này với chính quyền địa phương sẽ tiến hành xây dựng nhà ở cho bố tôi và không được chuyển nhượng cho ai.”

[12] Mặc dù hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không ghi điều kiện nhưng tại các văn bản nêu trên có thể hiện anh Quàng Văn P2 phải làm nhà cho ông Quàng Văn P1 ở, chăm sóc ông Quàng Văn P1 và bố mẹ của ông Quàng Văn P1”.

Tư vấn nội dung tranh chấp hợp đồng
Tư vấn nội dung tranh chấp hợp đồng

Giai đoạn 1: tư vấn nội dung tranh chấp hợp đồng

  • Tư vấn hợp đồng liên quan tới quan hệ tranh chấp và lĩnh vực tranh chấp.
  • Phân tích ưu điểm và bất lợi trong hợp đồng và trong quan hệ tranh chấp.
  • Trao đổi và hướng dẫn khách hàng thu thập tài liệu chứng cứ, cung cấp thông tin; Trực tiếp tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ thông qua việc tiếp xúc với các cá nhân, tổ chức, cơ quan có liên quan.
  • Tư vấn, hướng dẫn thực hiện hoặc tự thực hiện các công việc để kiện toàn hồ sơ pháp lý trước khi đàm phán, khởi kiện.
  • Tư vấn, chuẩn bị liên hệ và đàm phán với các bên liên quan trong việc giải quyết tranh chấp.
  • Tư vấn lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp hoặc lựa chọn cơ quan tài phán.

Giai đoạn 2: đại diện tố tụng giải quyết tranh chấp hợp đồng

  • Đại diện gặp gỡ, tổ chức thương lượng, hòa giải tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng.
  • Cử Luật sư đại diện theo ủy quyền gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan trọng tài; tham gia các phiên hòa giải, xét xử thay cho khách hàng.
  • Cử Luật sư đại diện bảo vệ quyền lợi của khách hàng trước tòa án, trọng tài tại các cấp sơ thẩm, phúc thẩm.

Giai đoạn 3: hỗ trợ thi hành phán quyết, quyết định tòa án, trọng tài

  • Đại diện tổ chức thu hồi công nợ, thi hành nội dung phán quyết, quyết định của tòa án, trọng tài
  • Hỗ trợ thi hành bản án, quyết định của tòa án, trọng tài Việt Nam.
  • Hỗ trợ thủ tục công nhận và thi hành phán quyết tòa án, trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Luật sư Gia Đình đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hỗ trợ luật sư là đối tác tư vấn pháp luật trên Đài tiếng nói Bình Dương, Đài truyền hình Bình Dương, Đài Đài Truyền hình HTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài VOV Giao Thông, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Tranh Chấp Hợp Đồng Xây Dựng
Tranh Chấp Hợp Đồng Xây Dựng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI

——————

Bản án số: 134/2006/KTPT

Ngày 06/7/2006

V/v tranh chấp Hợp đồng

thi công

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————————-HA.7

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thế Đoàn;

Các Thẩm phán: Ông Ngô Anh Dũng;

Bà Trần Thị Xuân.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Phụng Vương, cán bộ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà nội.

Ngày 06 tháng 7 năm 2006 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10KT/2006/TLPT ngày 30 tháng 3 năm 2006 về việc tranh chấp hợp đồng thi công theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số1712/2006/KDTM-QĐ ngày 21 tháng 6 năm 2006 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long có trụ sở tại 180 Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng do bà Trần Mai Anh-Giám đốc đại diện; có mặt.

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam có trụ sở tại 11/36 đường Nguyễn Viết Xuân, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội do ông Phạm Hồng Khải-Giám đốc đại diện; có mặt.

NHẬN THẤY

Ngày 10/11/2004, Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long (bên A) và Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam (bên B) ký hợp đồng kinh tế số 28/HĐKT. Theo hợp đồng bên B cung cấp vật tư và thi công hoàn thiện hạng mục gồm: trần treo xương chìm, giàn vòm kết cấu thép mica và vòm giàn đèn hoa cho công trình khách sạn.

Bên B sẽ thi công theo bản vẽ thiết kế mẫu ảnh do bên A cung cấp với các vật tư theo mẫu do bên A duyệt kèm theo bảng giá chi tiết cho hợp đồng. Trị giá hợp đồng theo bảng dự toán đã duyệt là 93.671.200 đồng, trừ đi số triết khấu lấy trị giá thực hiện là 90.000.000 đồng, chưa có thuế giá trị gia tăng 10%.

Hợp đồng quy định thời gian thi công bắt đầu từ ngày 12/11/2004 và kết thúc ngày 12/12/2004.

Việc thanh toán theo khối lượng công việc hoàn thành trong biên bản nghiệm thu. Ngay sau khi ký kết hợp đồng bên A đặt cọc 10.000.000 đồng. Sau khi bên B chuyển vòm mica xuống công trình, bên A tạm ứng cho bên B 25.000.000 đồng. Sau khi bên B thi công xong phần thô, bên A trả tiếp 25.000.000 đồng. Phần còn lại sẽ trả trong 2 ngày sau khi có biên bản nghiệm thu 2 bên.

Hai bên cam kết, nếu bên nào không thực hiện hợp đồng sẽ chịu phạt 10% giá trị hợp đồng. Trường hợp có tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng thì Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội sẽ là cơ quan giải quyết tranh chấp.

Ngoài ra, 2 bên còn thỏa thuận miệng về việc bên B cung cấp thiết bị và thi công phòng matxa, xông ướt, xông khô tại khách sạn Thiên Đường của bên A. Bên B đã nhận tạm ứng từ thỏa thuận này là 100.000.000 đồng.

Do bên B vi phạm hợp đồng, chậm tiến độ, không thi công theo đúng mẫu thiết kế nên nay bên A đề nghị Tòa án giải quyết thanh lý hợp đồng giữa 2 bên. Theo đó bên B phải trả lại bên A các khoản tiền sau:

– Tiền tạm ứng thi công 192.000.000 đồng bao gồm 52.000.000 đồng tiền tạm ứng thi công, 100.000.000 đồng tiền tạm ứng công việc ngoài hợp đồng. Tiền bên B vay người nhà bên A là 40.000.000 đồng và xác định đây là quan hệ cá nhân.

– Tiền phạt chậm tiến độ mà bên B đã cam kết trong hợp đồng tính từ ngày 12/12/2004 đến 14/12/2005 là 367.000.000 đồng (1.000.000 đồng/ ngày).

– Về thực hiện hợp đồng, bên B đã thi công đúng hợp đồng và theo mẫu bên A đưa ra đạt 95% khối lượng công việc.

– Về việc thanh toán của bên A, bên B đã được tạm ứng 47.000.000 đồng cho hợp đồng vào các ngày 10/11/2004 là 10.000.000 đồng, ngày 28/11/2004 là 25.000.000 đồng và ngày 19/01/2005 là 12.000.000 đồng.

Ngoài ra, bên B còn nhận tạm ứng của bên A số tiền 100.000.000 đồng để làm công việc ngoài hợp đồng. Trong thời gian thi công bên B còn bên A số tiền 10.000.000 đồng, nay đồng ý tính vào tiền thi công trần.

Bên B công nhận có vay người nhà bên A là anh Hòe số tiền 22.000.000 đồng.

– Bên B không chấp nhận yêu cầu phạt của bên A vì việc chậm tiến độ là do lỗi bên A bàn giao mặt hàng chậm, không có biên bản, chậm ứng tiền, dừng thi công hợp đồng không có lý do, đuổi thợ, không tạm ứng đủ tiền dẫn đến bên B không mua đủ vật tư.

– Nay Bị đơn đồng ý thanh lý hợp đồng, yêu cầu Nguyên đơn trả nốt tiền thi công còn thiếu là 28.500.000 đồng (95% x 90.000.000 đồng – (47.000.000 đồng + 10.000.000 đồng)).

Tại bản án sơ thẩm số15/2006/KDTM-ST ngày 23/02/2006, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng khoản 1, 2 Điều 422 Bộ luật dân sự; các Điều 29, 35, 36, 130, 159, 243 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Xây dựng, tuyên xử:

1. Hợp đồng kinh tế số 28/HĐKT ký ngày 10/11/2004 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long và Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam được thanh lý kể từ ngày 23/02/2006.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam đã thi công xong khối lượng công việc có trị giá 52.767.000 đồng, Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long có trách nhiệm thanh toán trả Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam số tiền này.

Xác nhận Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long đã tạm ứng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam.

Đối trừ khối lượng đã thi công, Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam phải hoàn trả Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long số tiền tạm ứng còn thừa là 4.233.000 đồng.

3. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam phải trả Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long khoản tiền phạt do chậm tiến độ thi công là 185.153.000 đồng.

4. Xác định giao dịch giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long và Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam về việc cúng cấp thiết bị và thi công phòng mátxa, xông ưởt, xông khô tại khách sạn Thiên Đường của Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long là giao dịch vô hiệu.

Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam phải hoàn trả Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long số tiền đã nhận là 100.000.000 đồng.

5. Tổng cộng các khoản Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long là 289.386.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

– Ngày 7/3/2006, bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

– Ngày 8/3/2006, nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long kháng cáo với nội dung đề nghị xem xét kết luận giám định của Hội đồng định giá Hải Phòng; xem xét khoản tiền phạt theo thỏa thuận; xem xét phần làm tầng 5 và nhà hàng; xem xét khoản lãi ngân hàng để bảo vệ quyền lợi cho công ty.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Trần Mai Anh rút yêu cầu kháng cáo về việc kết luận thẩm định giá quá cao so với thực tế; giữ nguyên yêu cầu phạt 1.000.000 đồng/ngày do chậm tiến độ theo thỏa thuận của hai bên; đề nghị không tính tiền phần làm trần tầng 5 và không cộng phần thuế giá trị gia tăng vì hợp đồng không thỏa thuận.

Còn ông Phạm Hồng Khải đề nghị tính tiền phần trần tầng 5 đã thi công; đề nghị xem lại khoản tiền phạt và không phải hoàn trả 100.000.000 đồng vì đã thi công xong.

Xem xét các yêu cầu kháng cáo của các bên đương sự thấy rằng:

1. Sau khi xét xử sơ thẩm Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long (Hải Phòng) không đồng ý với kết luận của Trung tâm tư vấn thẩm định giá và tài sản thuộc sở tài chính thành phố Hải Phòng vì giá quá cao so với thực tế.

Song, sau khi được thông báo kết quả thẩm định giá của Trung râm tư vấn thẩm định giá và tài sản cũng như tại phiên toàn sơ thẩm bà Trần Mai Anh-Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long đều không có ý kiến gì về việc thẩm định giá. Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam (Hà Nội) cũng không có ý kiến gì về việc này.

Hiện tại, Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long đã thuê người khác hoàn thiện công trình mà phía Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam chưa làm xong. Do vậy, bà Trần Mai Anh đã tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo về phần này, nên cần chấp nhận không xem xét lại theo trình tự phúc thẩm.

2. Đối với yêu cầu xem xét lại khoản tiền phạt 1.000.000 đồng/ngày theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và kết quả thẩm tra chứng cứ đủ cơ sở xác định: ông Phạm Hồng Khải trực tiếp viết bổ sung vào bản hợp đồng về việc phạt do chậm tiến độ và bàn giao công trình… cùng ngày 10/11/2004 là ngày 2 bên ký kết hợp đồng; các bên đương sự đếu xác nhận có việc thỏa thuận này. Xét việc thỏa thuận đó của các bên là tự nguyện, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là phần bổ sung là có căn cứ.

Tuy nhiên, xét hợp đồng kinh tế được ký kết, thi công, chấm dứt không thực hiện đúng các điều khoản cam kết trong hợp đồng cũng như việc phát sinh tranh chấp đều diễn ra tại thời điểm trước khi Bộ luật dân sự có hiệu lực pháp luật (ngày 01/01/2006). Do vậy, thỏa thuận của các đương sự phạt 1.000.000 đồng/ngày nếu bên B chậm tiến độ thi công và bàn giao công trình là trái với các quy định của pháp luật nên không được chấp nhận. Vì thế, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 422 Bộ luật Dân sự 2005 và buộc bên B phải chịu phạt 47,20% mức phạt 1.000.000 đồng/ngày tương ứng với giá trị công trình chưa thực hiện là chưa chính xác, không có căn cứ pháp luật; nên không có cơ sở pháp luật để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn phạt Bị đơn 1.000.000 đồng/ngày như đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn vẫn cho rằng lỗi không thực hiện được hợp đồng là do Nguyên đơn gây ra. Song, tại phiên tòa Bị đơn không đưa ra được chứng cứ, tài liệu gì để chứng minh việc thi công chậm tiền độ, cũng như việc dừng thực hiện hợp đồng là do lỗi của Nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ kiện Bị đơn có xuất trình các biên bản tạm dừng thi công đề ngày 25/11/2004 và 25/01/2005 để cho rằng Nguyên đơn có lỗi dẫn tới việc không thực hiện hợp đồng.

Xét hai văn bản nêu trên, là do Bị đơn tự lập với bên thi công của Bị đơn, không có ai chứng kiến, không phù hợp với các khoản tiền mà Bị đơn đã tạm ứng ngày (10/11/2004, 27/11/2004 và ngày 19/1/2005) cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận lý do mà Bị đơn đưa ra là đúng. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận tiến độ thi công, không bàn giao được công trình là do lỗi của Bị đơn; rõ ràng Bị đơn đã vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng.

Thực tế, Bị đơn đã thực hiện một phần hợp đồng nên có căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng để xác định mức phạt đối với Bị đơn. Điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định số 17/HĐBT nêu trên quy định: “Vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng phạt 2% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm thời hạn thực hiện cho 10 ngày lịch đầu tiền; phạt thêm từ 0,5% đến 1% cho mỗi đợt 10 ngày tiếp theo cho đến mức tổng số các lần phạt không quá 8% giá trị hợp đồng kinh tế bị vi phạm ở thời điểm 10 ngày lịch đầu tiên”.

Căn cứ vào kết quả thẩm định giá, biên bản xem xét hiện trạng và ý chí của Nguyên đơn đồng ý thanh toán cho Bị đơn phần công trình đã thi công xong hoặc phần còn sử dụng được; Hội đồng xét xử xác định Bị đơn đã thi công hoàn thành một phần công việc và có những phần đã thi công nhưng không đạt chất lượng như hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do vậy, bị đơn chỉ được chấp nhận thanh toán những phần thi công đúng hợp đồng, hoặc còn sử dụng được mà Nguyên đơn cũng chấp nhận.

Căn cứ vào chứng thư thẩm định giá, hợp đồng đã ký kết và yêu cầu kháng cáo không tính 10% thuế giá trị gia tăng vào phần đã làm dược chấp nhận thanh toán; Hội đồng xét xử xác định lại trị giá phần kết quả thi công của Bị đơn như sau:

2.1. Về 02 phòng Karaoke: Hai phòng này Bị đơn thi công theo mẫu tại một đơn vị khác mà hai bên đã cùng nhau đến xem, không có ảnh. Theo biên bản xem xét hiện trạng và chứng từ thẩm định thì 2 phần việc này Bị đơn đã thi công xong, được chấp nhận thanh toán là: 8.578.940 đồng.

2.2. Về việc thi công nhà hàng tầng 1 có 05 vòm giãn đèn gồm 01 vòm lớn cho sân khấu và 04 vòm nhỏ:

-Việc thi công 04 vòm nhỏ: Nguyên đơn công nhận Bị đơn đã làm xong khung sắt, mẫu hoa văn thạch cao và hoa sắt trang trí, nhưng chưa lắp hết mica, như đã được phản ánh trong biên bản xem xét hiện trạng ngày 06/10/2005. Tại các phiên tòa Nguyên đơn đồng ý thanh toán cho Bị đơn trị giá phần thi công đã được tính toán trong chứng thư thẩm định giá ngày 20/12/2005, nên phần này Bị đơn được thanh toán là : 9.891.000 đồng.

– Đối với vòm lớn trùm sân khấu: Mặc dù, Bị đơn trình bày đã làm đúng ảnh mẫu và nại rằng theo ảnh mẫu thì đây là ½ vòm tròn và lưới trang trí là lưới mắt cáo. Nhưng qua thẩm định là lưới B40 và có sự chắp vá. Hơn nữa ½ vòm là không đúng với báo giá và dự toán khối lượng kèm theo hợp đồng đã ký.

Do đó, giá trị phần thi công lưới nêu trên của Bị đơn không được chấp nhận để thanh toán; chỉ được thanh toán phần kết cấu sắt thép trị giá 1.281.950 đồng và 389.170 đồng. Cộng hai khoản là 1.671.120 đồng.

– Về trần nhà hàng: theo biên bản xem xét hiện trạng thì Bị đơn đã làm xong các tấm phào trang trí cho cả 05 ô vòm và các phần trần xung quanh. Riêng phần trần ở khu vực sân khấu, ao vòm không đúng thiết kế và đang thi công dở, nên phần trần khu vực này chưa làm xong.

Bị đơn nại rằng do Nguyên đơn yêu cầu thay đổi thiết kế phần này; Nhưng không chứng minh được việc bên A yêu cầu thay đổi thiết kế.

Do vậy, Bị đơn chỉ được chấp nhận đã đóng xong dầm, trần thạch cao cho 04 ô có vòm nhỏ. Còn ô lớn có vòm lớn tại khu vực sân khấu không được chấp nhận để thanh toán.

Cụ thể phần này được thanh toán các khoản sau: trị giá phần đóng dầm trần là 16.260.000 đồng cho cả 05 ô vòm và 22.704.000 đồng trị giá phần đóng trần thạch cao. Cộng hai khoản là 38.964.000 đồng. Song phải trừ đi phần công việc , vật tư chưa làm có trong đơn giá (Trần mica, đèn trùm) là 7.978.200 đồng; chỉ được thanh toán phần này là 30.985.800 đồng.

Tổng cộng các phần Bị đơn đã thi công được chấp nhận thanh toán là 51.126.860 đồng.

Như vậy, số tiền Bị đơn vi phạm hợp đồng được xác định trị giá 38.873.140 đồng.

Bị đơn vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng trong một thời gian dài. Do vậy, cần áp dụng mức phạt cao nhất 8% theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng.

Cụ thể: giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm ở thời điềm 10 ngày lịch đầu tiên là 38.873.140 đồng và bị phạt 8% bằng: 3.109.851 đồng.

2.3. Đối với việc thi công trần phòng tầng 5:

Phần này Nguyên đơn xác nhận: thiết kế trần phòng này do Bị đơn cung cấp mẫu trong Catalog của Bị đơn, được Nguyên đơn đồng ý. Theo mẫu này trần có giật hai cấp và lắp mica màu trắng ở giữa; hai bên có khoét lỗ đèn âm trần.

Song tại biên bản xem xét hiện trạng mà Bị đơn có tham gia kiểm tra xem xét thì trần được lắp bằng mica màu xanh đã vỡ, không có lỗ để lắp đèn âm trần và trần đã có hiện tượng nứt. Tại phiên tòa sơ thẩm, Bị đơn cũng phải thừa nhận việc thi công không đúng mẫu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận phần thi công này trị giá 11.622.100 đồng là có căn cứ. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn và không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn đối với số tiền cụ thể này.

3. Đối với yêu cầu không đồng ý hoàn trả Nguyên đơn 100.000.000 đồng đã nhận của Bị đơn:

Quá trình giải quyết vụ kiện Bị đơn đều công nhận có nhận của Nguyên đơn số tiền: 100.000.000 đồng (ngày 14/12 và 22/12/2004. mỗi lần 50.000.000 đồng) để mua thiết bị và thi công trong thời hạn từ 22/12/2004 đến ngày 20/01/2005 tại công trình khách sạn Thiên Đường của Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long. Nhưng hai bên chưa ký hợp đòng hoàn chỉnh.

Xét thấy đây là một quan hệ kinh doanh thương mại về việc thi công công trình. Do đó, theo quy định tại Điều 170 Luật Xây dựng thì hợp đồng trong hoạt động xây dựng được lập thành văn bản phù hợp với Luật Xây dựng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Do đó, việc các bên chỉ thỏa thuận với nhau trên cơ sở các giấy biên nhận, không lập thành văn bản theo yêu cầu của pháp luật là không đúng.

Do vậy, các bên phải trở lại tình trạng ban đầu. Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam phải hoàn trả Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long 100.000.000 đồng và nhận lại số vật tư đã gửi tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long.

Nên không chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam đối với khoản tiền này.

4. Về việc thanh lý hợp đồng:

Đối với yêu cầu không tính 10% thuế giá trị gia tăng vào phần tính giá trị thi công được chấp nhận để thanh toán theo yêu cầu của Nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận như Hội đồng xét xử đã xem xét ở phần trên. Bởi lẽ, Hợp đồng cũng như chứng thư thẩm định giá đều chưa cộng thêm 10% thuế giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, khi xem xét để thanh lý hợp đồng thì phải tính thêm 10% giá trị thuế giá trị gia tăng để đối trừ cho Bị đơn số tiền đã tạm ứng của Nguyên đơn. Bởi lẽ, 10% thuế giá trị gia tăng này bên Nguyên đơn vẫn phải thanh toán cho Bị đơn theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.

Căn cứ vào các giấy biên nhận tạm ứng tiền để thi công các phần việc làm trần, phào là: 47.000.000 đồng; cộng với 10.000.000 đồng ông Khải vay được xác định đối trừ vào tiền thi công, thì Nguyên đơn đã tạm ứng cho Bị đơn tổng cộng là 57.000.000 đồng.

Đối trừ số tiền giá trị phần Bị đơn đã thi công được chấp nhận thanh toán là 51.126.860 đồng và 10% thuế giá trị gia tăng của số tiền này là 5.112.686 đồng; Bị đơn phải trả lại cho Nguyên đơn số tiền tạm ứng thừa là: 57.000.000 đồng – 56.239.546 đồng = 760.454 đồng.

Như vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam phải có trách nhiệm thanh toán trả Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long tiền thi công ứng thừa: 760.454 đồng; tiền phạt do vi phạm thời hạn hợp đồng 3.109.851 đồng; cộng với 100.000.000 đống ứng thi công hạng mục khác ngoài hợp đồng. Tổng cộng ba khoản phải trả là: 103.870.305 đồng.

Do vậy, chỉ có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của các bên đương sự.

Các yêu cầu khác mà đương sự trình bày tại phiên tòa không thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử nên không xem xét.

Các bên đương sự không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 275; khoản 1 Điều 276; các Điều 29; Điều 35, 36, 130, 159 và 243 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 136 Bộ luật dân sự 1995; Điều 107 Luật Xây dựng;

QUYẾT ĐỊNH:

1- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng sửa một phần bản án sơ thẩm về khoản tiền phạt do vi phạm thời hạn hợp đồng:

– Xác nhận Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam đã thi công xong khối lượng công việc có trị giá là: 51.126.860 đồng (Năm mươi mốt triệu một trăm hai mươi sáu ngàn tám trăm sáu mươi đồng).

Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim long có trách nhiệm trả Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam số tiền này.

– Xác nhận Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long đã tạm ứng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam 57.000.000 đồng (Năm mươi bảy triệu đồng).

– Đối trừ khối lượng thi công được thanh toán và 10% thuế giá trị gia tăng, Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam phải hoàn trả công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long số tiền tạm ứng thừa là: 760.454 đồng (Bảy trăm sáu mươi nghìn bốn trăm năm mươi tư đồng).

2. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thành Nam phải hoàn trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long số tiền phạt vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng là: 3.109.851 đồng (Ba triệu một trăm linh chín nghìn tám trăm năm mươi mốt đồng).

3. Xác định giao dịch giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Long và Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng v

Luật Sư Chuyên Bào Chữa Hợp Đồng Kinh Tế
Luật Sư Chuyên Bào Chữa Hợp Đồng Kinh Tế

Tranh chấp Hợp đồng: Là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ Hợp đồng liên quan đến việc thực hiện (hoặc không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng.

A. /KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG:
I. Tranh chấp Hợp đồng: Là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ Hợp đồng liên quan đến việc thực hiện (hoặc không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng.

1.       Tranh chấp Hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về việc đánh giá hành vi vi phạm hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ vi phạm đó (trong khi vi phạm Hợp đồng là hành vi đơn phương của một bên đã xử sự trái với cam kết trong Hợp đồng).

2.       Các đặc điểm của tranh chấp Hợp đồng:
- Phát sinh trực tiếp từ quan hệ Hợp đồng, nên luôn luôn thuộc quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp (tức các bên trong Hợp đồng).
- Mang yếu tố tài sản (vật chất hay tinh thần) và gắn liền lợi ích các bên trong tranh chấp.
- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp Hợp đồng là bình đẳng, thỏa thuận.

II. Giải quyết tranh chấp Hợp đồng:

1.       Tranh chấp Hợp đồng đòi hỏi phải được giải quyết thỏa đáng bằng một phương thức chọn lựa phù hợp để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, vừa đảm bảo trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội, giáo dục được ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần chủ động ngăn ngừa các vi phạm Hợp đồng.

2.       Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp Hợp đồng phải đảm bảo nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật.

3.       Quyết định giải quyết các tranh chấp Hợp đồng phải có tính khả thi cao, thi hành được và quá trình giải quyết phải đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp.

4.       Tranh chấp Hợp đồng có thể được giải quyết bằng các phương thức khác nhau: hòa giải, trọng tài hay Tòa án.

5.       Các bên tranh chấp có thể chọn lựa một phương thức giải quyết tranh chấp Hợp đồng phù hợp hoặc sử dụng phối hợp nhiều phương pháp.

6.       Các yếu tố tác động chi phối việc các bên chọn lựa phương thức giải quyết các tranh chấp Hợp đồng :
- Các lợi thế mà phương thức đó có thể mang lại cho các bên.
- Mức độ phù hợp của phương thức đó đối với nội dung và tính chất của tranh chấp Hợp đồng với cả thiện chí của các bên.
- Thái độ hay qui định của nhà nước đối với quyền chọn lựa phương thức giải quyết của các bên.

B./ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Hợp đồng:
I. Phương thức thương lượng, hòa giải:

1.       Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất trong lịch sử xã hội loài người trên nhiều lãnh vực, chứ không riêng đặc trưng gì với tranh chấp Hợp đồng.

2.       Hòa giải là các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thống nhất một phương án giải quyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đã thỏa thuận qua hòa giải.

3.       Ở VN, việc hòa giải tranh chấp Hợp đồng được coi trọng. Các bên phải tự thương lượng, hòa giải với nhau khi phát sinh tranh chấp. Khi thương lượng, hòa giải bất thành mới đưa ra Tòa án hoặc trọng tài giải quyết. Ngay tại Tòa án, các bên vẫn có thể tiếp tục hòa giải với nhau. Ở VN, bình quân mỗi năm, số lượng tranh chấp kinh tế được giải quyết bằng phương thức hòa giải chiếm đến trên dưới 50% tổng số vụ việc mà Tòa án đã phải giải quyết.

4.    Các ưu điểm của giải quyết tranh chấp Hợp đồngKT trong thực tế bằng phương thức hòa giải:
- Là phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém.
- Các bên hòa giải thành thì không có kẻ thắng người thua nên không gây ra tình trạng đối đầu giữa các bên, vì vậy duy trì được quan hệ hợp tác vẫn có giữa các bên.
- Các bên dễ dàng kiểm soát được việc cung cấp chứng từ và sử dụng chứng từ đó giữ được các bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên.
- Hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện có điều kiện của các bên, nên khi đạt được phương án hòa giải, các bên thường nghiêm túc thực hiện.

5.       Những mặt hạn chế của phương thức hòa giải trong tranh chấp Hợp đồng:
- Nếu hoà giải bất thành, thì lợi thế về chi phí thấp trở thành gánh nặng bổ sung cho các bên tranh chấp.
- Người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục hòa giải để trì hoản việc thực hiện nghĩa vụ của mình và có thể đưa đến hậu quả là bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc trọng tài vì hết thời hạn khởi kiện.

6.       Các hình thức hòa giải:
- Tự hòa giải: là do các bên tranh chấp tự bàn bạc để đi đến thống nhất phương án giải quyết tranh chấp mà không cần tới sự tác động hay giúp đỡ của đệ tam nhân.
- Hòa giải qua trung gian: là việc các bên tranh chấp tiến hành hòa giải với nhau dưới sự hổ trợ, giúp đỡ của người thứ ba (người trung gian hòa giải). Trung gian hòa giải có thể là cá nhân, tổ chức hay Tòa án do các bên tranh chấp chọn lựa hoặc do pháp luật qui định.
- Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng: là việc hòa giải được các bên tiến hành trước khi dưa đơn khởi kiện ra Tòa án hay trọng tài.
- Hòa giải trong thủ tục tố tụng: là việc hòa giải được tiến hành tại Tòa án, trong tài khi các cơ quan này tiến hành giải quyết tranh chấp theo đơn kiện của một bên (hòa giải dưới sự trợ giúp của Tòa án hay trọng tài). Tòa án, trong tài sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên và quyết định này có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.

II. Phương thức giải quyết bởi Trọng tài: Tức là các bên thỏa thuận đưa ra những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tại Trọng tài và Trọng tài sau khi xem xét sự việc tranh chấp, sẽ đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.

- Phương thức giải quyết trọng tài cũng bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện.
- Các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn một Trọng tài phù hợp, chỉ định trọng tài viên để thành lập Hợp đồng (hoặc Ủy ban) Trọng tài giải quyết tranh chấp.
- Khác với thương lượng hòa giải, trọng tài là một cơ quan tài phán (xét xử). Tính tài phán của trọng tài thể hiện ở quyết định trọng tài có giá trị cưỡng chế thi hành.
- Thực tiễn giải quyết các tranh chấp ở các nước trên thế giới: có 2 hình thức trọng tài: Trọng tài vụ việc (Ad – hoc) và trọng tài thường trực.
- Trọng tài vụ việc (Ad – hoc): là loại trọng tài được các bên tranh chấp thỏa thuận lập ra để giải quyết một tranh chấp cụ thể và sẽ giải thể khi giải quyết xong tranh chấp đó.
- Trọng tài thường trực: liên tục tồn tại để giải quyết tranh chấp. Trọng tài thường trực có bộ phận giúp việc, có danh sách trọng tài viên và có qui tắc tố tụng riêng.
- Ở VN, trọng tài được tổ chức dưới hình thức các trung tâm trọng tài thường trực. Trung tâm trọng tài Quốc tế VIệt Nam (VIAC) và các trung tâm trọng tài kinh tế (thành lập theo Nghị Định 116/CP ngày 05/09/1994).
- Ở VN hiện có 5 trung tâm trọng tài: Trung tâm trọng tài kinh tế Thăng Long, TT/TTKT Hà Nội, TT/TTKT Bắc Giang, TT/TTKT Sài Gòn và TT/TTKT Cần Thơ.
- Trọng tài kinh tế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế trong đó có các tranh chấp Hợp đồng trong hoạt động kinh doanh.
- Trọng tài kinh tế có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp Hợp đồng trong kinh doanh ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với các chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân với nhau (theo Nghị Định 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ và Thông tư 02/PLDS-KT ngày 03/01/1995 của Bộ Tư Pháp).
- Trung tâm trọng tài Quốc tế VIệt Nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế, trong đó có tranh chấp Hợp đồng (tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng thuần túy dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài).
- Thẩm quyền của Trọng tài được xác định không phụ thuộc vào quốc tịch, địa chỉ trụ sở giao dịch chính của các bên tranh chấp hay nơi các bên tranh chấp có tài sản hay nơi ký kết hoặc thực hiện Hợp đồng.
- Điều kiện để trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là các bên phải có thỏa thuận trọng tài.
- Thỏa thuận trọng tài là sự nhất trí của các bên đưa ra những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tại trọng tài.
- Thỏa thuận trọng tài phải thể hiện dưới hình thức văn bản và phải chỉ đích danh một trung tâm trọng tài cụ thể (theo khoản 2 điều 3 Nghị Định 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ).
- Thỏa thuận trọng tài có thể là một điều khoản của Hợp đồng (điều khoản trọng tài) hay là một thỏa thuận riêng biệt (Hiệp nghị trọng tài).
- Mọi sự thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ hay vô hiệu của Hợp đồng đều khôn glàm ảnh hưởng đến hiệu lực của thoả thuận trọng tài (trừ trường hợp lý do làm Hợp đồng vô hiệu cũng là lý do làm thoả thuận trọng tài vô hiệu).
- Thỏa thuận trọng tài không có giá trị ràng buộc các bên khi nó không có hiệu lực hoặc không thể thi hành được.
- Khi đã có thỏa thuận trọng tài thì các bên chỉ được kiện tại trọng tài theo sự thỏa thuận mà thôi. Tòa án không tham gia giải quyết nếu các bên đã thỏa thuận trọng tài, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài đó là vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài là không thể thực hiện được.
- Trọng tài hoạt động theo nguyên tắc xét xử một lần. phán quyết trọng tài có tính chung thẩm: các bên không thể kháng cáo trước Tòa án hoặc các tổ chức nào khác.
- Các bên tranh chấp phải thi hành phán quyết trọng tài trong thời hạn ấn định của phán quyết.

·         Các ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp Hợp đồng thông qua trọng tài:
a) Thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng.
b) Các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng tài.
c) Quyền chỉ định trọng tài viên giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp. Qua đó, có điều kiện giải quyết tranh chấp Hợp đồng nhanh chóng, chính xác.
d) Nguyên tắc trọng tài không công khai giúp các bên hạn chế sự tiết lộ các bí quyết kinh doanh, giữ được uy tính của các bên trên thương trường.
e) Trọng tài không đại diện cho quyền lực nhà nước nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp có nhân tố nước ngoài.

·         Các mặt hạn chế của phương thức trọng tài:
a) Tính cưỡng chế thi hành các quyết định trọng tài không cao (vì Trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước).
b) Việc thực hiện các quyết định trọng tài hoàn tòan phụ thuộc vào ý thức tự nguyện của các bên.

C./ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG TƯ PHÁP:

I. Khái niệm: Khi tranh chấp Hợp đồng phát sinh, nếu các bên không tự thương lượng, hòa giải với nhau thì có thể được giải quyết tại Tòa án. Tùy theo tính chất của Hợp đồng là kinh tế hay dân sự mà các tranh chấp phát sinh có thể được Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế hay thủ tục tố tụng dân sự.
- Cơ sở pháp lý cho hoạt động xét xử tranh chấp Hợp đồng của Tòa án là Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự (có hiệu lực ngày 01/01/2005).

·         Các lợi thế của việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng qua Tòa án:
a) Các quyết định của Tòa án (đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước) có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên. 
b) Với nguyên tắc 2 cấp xét xử, những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện khắc phục.
c) Với điều kiện thực tế tại VN, thì án phí Tòa án lại thấp hơn lệ phí trọng tài.
 

·         Các mặt hạn chế của việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng qua Tòa án:
a) Thời gian giải quyết tranh chấp thường kéo dài (vì thủ tục tố tụng Tòa án quá chặt chẽ).
b) Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế.

II. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp Hợp đồng của Tòa án:

1.   Thẩm quyền theo vụ việc:
- Là việc xác định những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án kinh tế, tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án dân sự.
- Có thể dùng phương pháp loại trừ: những tranh chấp Hợp đồng mang yếu tố tài sản nào không thuộc thẩm quyền của Tòa án kinh tế thì sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa dân sự.
tCác tranh chấp Hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Kinh tế (theo Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự ngày 01/01/2005):
a. Tranh chấp Hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân,giữa pháp nhân với cá nhân có ĐKKD.
b. Các tranh chấp Hợp đồng có mục đích SXKD tại VN, nếu 1 hoặc các bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài (trừ trường hợp Điều ước quốc tế của VN ký kết hoặc tham gia có qui định khác).
Lưu ý: Các Hợp đồng trong hoạt động thương mại thỏa mãn các điều kiện về chủ thể (pháp nhân với pháp nhân,giữa pháp nhân với cá nhân có ĐKKD), về mục đích (phục vụ hoạt động kinh doanh) và về hình thức (ký kết bằng văn bản) sẽ mang tính chất của Hợp đồng kinh tế và tranh chấp phát sinh được Tòa án giải quyết thống nhất theo thủ tục tố tụng của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự ngày 01/01/2005.
tCác tranh chấp Hợp đồng (tuy phát sinh từ hoạt động SXKD ) không được giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế:
a) Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể kinh tế không có tư cách pháp nhân.
b) Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng được ký kết giữa pháp nhân với những người làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể.
c) Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng không được ký kết dưới hình thức văn bản.

2.       Thẩm quyền theo cấp xét xử:
a) Thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung Tòa án cấp huyện):
- Bộ Luật TTDS 2005 mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho các TAND Quận, Huyện khi qui định: “giao cho TAND cấp huyện giải quyết thủ tục sơ thẩm các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài (trừ những vụ việc có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của VN ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của TAND cấp tỉnh)”.
b) Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, TP thuộc TW (gọi chung là Tòa án cấp tỉnh):
 vGiải quyết theo thủ tục sơ thẩm: Những tranh chấp Hợp đồng không thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện. Trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh cũng có thể lấy lên để giải quyết các vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.
 vGiải quyết theo thủ tục phúc thẩm: Những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị.
 vGiám đốc thẩm hoặc tái thẩm: Những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện bị kháng nghị.


12»

Hỗ trợ trực tuyến

ĐIỆN THOẠI HẸN GẶP
 LUẬT SƯ TƯ VẤN:
 0972238006 - 
028.38779958
Hỗ trợ trực tuyến:
Yahoo: Yahoo
Skype: Skype
0972238006
Hợp Đồng Tặng Cho Tài Sản Nhà Đất
luật sư tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp
luat su rieng cho cong ty
luật sư doanh nghiệp
luat su nha dat
luật sư doanh nghiệp
luật sư trả lời đài truyền hình
luật sư trả lời báo chí
Trang chủ | Luật sư chuyên giải quyết thuận tình ly hôn tại tphcm | Luật sư chuyên đại diện ủy quyền ly hôn | Luật sư chuyên soạn thảo các loại hợp đồng | Luật sư ly hôn tại Tân Bình, Gò Vấp | Luật sư chuyên đại diện cho doanh nghiệp tại tòa án | Văn phòng luật sư tư vấn | Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất với người nước ngoài | Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất cho việt kiều tại sài gòn | Luật sư chuyên khởi kiện tranh chấp thừa kế | Luật sư chuyên khởi kiện thu hồi nợ | Luật sư chuyên làm giấy tờ nhà đất tại tphcm | Luật sư giỏi tại thành phố hồ chí minh | Dịch vụ sang tên sổ đỏ sổ hồng | Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng | Tư vấn người nước ngoài ly hôn với người việt nam | Luật sư giỏi về thừa kế tại tphcm | Luật sư tư vấn luật đất đai | Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại trong vụ án hình sự | Luật sư chuyên tư vấn chia tài sản sau khi ly hôn | Luật sư pháp chế doanh nghiệp | Phí thuê luật sư ly hôn tại tphcm | Tư vấn thủ tục nhận thừa kế nhà đất | Luật sư cho việt kiều và người nước ngoài | Luật sư giỏi chuyên tố tụng | Luật sư cho công ty tại quận 6, bình tân | Luật sư cho công ty tại quận 5, quận 11, quận 10 | Luật sư tư vấn kiện đòi nhà cho thuê | Luật sư chuyên nhà đất quận 9, quận 12 | Luật sư tư vấn thu hồi công nợ | Tranh Chấp Dân Sự Có Yếu Tố Nước Ngoài | Luật Sư Làm Ly Hôn Nhanh Tại Tphcm | Tư Vấn Kiện Đòi Lại Nhà Cho Ở Nhờ | Luật sư tư vấn kiện đòi nhà | Luật sư tư vấn mua bán nhà đất | Luật sư tư vấn hợp đồng vô hiệu | Tư vấn hợp đồng giả cách | Luật Sư Hòa Giải Tranh Chấp Đất Đai | Tư Vấn Tranh Chấp Ly Hôn | Luật Sư Chuyên Ly Hôn Nhanh Trọn Gói | Tư Vấn Chuyển Nhượng Cổ Phần Vốn Góp | Luật Sư Bảo Hộ Doanh Nghiệp | Luật Sư Giải Quyết Ly Hôn Nhanh Tại Tphcm | Tư Vấn Kiện Đòi Nợ | Luật Sư Tranh Chấp Nhà Ở | Luật Sư Chuyên Soạn Đơn Khởi Kiện/Khiếu Nại | Luật sư tư vấn soạn đơn ly hôn | Luật Sư Tư Vấn Thành Lập Doanh Nghiệp | Luật Sư Tư Vấn Tại Công Ty | Luật Sư Chuyên Nhà Đất Tại Quận 6, Bình Tân, Bình Chánh | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Nuôi Con Khi Ly Hôn | Luật Sư Tư Vấn Cho Người Hoa Tại tphcm/Hoa Kiều | Luật Sư tư Vấn Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động | Luật Sư Tư Vấn Cho Việt Kiều Úc, Mỹ, Canada | Luật Sư Tư Vấn Luật Thường Xuyên Cho Doanh Nghiệp | Công Chứng Khai Nhận Thừa Kế | Văn Phòng Luật Sư Tư Vấn Chia Tài Sản Khi Ly Hôn | Luật Sư Tư Vấn Bất Động Sản | Luật Sư Tranh Chấp Thừa Kế Tại Quận 6 | Luật Sư Tranh Chấp Kinh Doanh Thương Mại | Luật Sư Chuyên Đại Diện Ủy Quyền Tại Tòa Án | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Tân | Luật Sư Ly Hôn Tại Quận 6 | Luật Sư Chuyên Ly Hôn Tại Bình Thạnh, Gò Vấp | Luật Sư Hình Sự Tại Biên Hòa | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Quận 10, Quận 11 | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Cố Phần Vốn Góp | Luật Sư Bảo Vệ Bào Chữa Tại Trung Tâm Trọng Tài | luật sư trả lời phỏng vấn báo chí truyền thông | Luật Sư Quận Tân Phú | Luật Sư Quận Phú Nhuận | Luật Sư Quận Gò Vấp | Dịch Vụ Hợp Thức Hóa Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất Cho Việt Kiều | Luật Sư Tư Vấn Cho Công Ty | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Chánh | Luật Sư Chuyên Khởi Kiện Án Hành Chính | Luật Sư Tư Vấn Lấn Chiếm Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Chuyển Nhượng Đất | Tư Vấn Cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Phân Chia Thừa Kế | Luật Sư Tư Vấn Cho Công Ty Bất Động Sản | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Đất Đai Tại Bình Chánh | Luật Sư Bào Chữa Hình Sự | Luật Sư Tư Vấn Ngoài Giờ | Tranh Chấp Thừa Kế Có Yếu Tố Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Đòi Lại Tài Sản | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Đứng Tên Dùm Nhà Đất | Luật sư chuyên tư vấn doanh nghiệp | Luật sư giỏi về hình sự tại thành phố hồ chí minh | Luật sư giỏi về nhà đất tại tphcm | Luật sư giỏi di chúc thừa kế tại tphcm | Luật sư chuyên tranh chấp nhà chung cư | Luật sư giỏi về hình sự tại sài gòn | Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng góp vốn | Luật sư chuyên thừa kế di chúc | tư vấn công chứng mua bán nhà đất | luật sư tư vấn thành lập công ty | luật sư chuyên tư vấn ly hôn chia tài sản | dịch vụ luật sư di sản thừa kế | Dịch vụ luật sư nhà đất tại TPHCM | luật sư quận 1 | luật sư quận 2 | luật sư quận 3 | luật sư quận 4 | luật sư quận 5 | Luật Sư Tại Quận 6 | luật sư quận 7 | luật sư quận 8 | luật sư quận 9 | Luật sư quận 10 | Luật sư quận 11 | luật sư quận 12 | Luật sư quận bình thạnh | Luật sư huyện bình chánh | Luật sư huyện Nhà Bè | luật sư huyện hóc môn | Văn phòng Luật sư Nhà Đất | Luật sư huyện Cần Giờ | Văn phòng luật sư tại TPHCM | Luật Sư Tại Sài Gòn | luật sư việt nam | Luật sư Uy Tín | Luật sư Công Ty | luật sư quận thủ đức | Luật sư chuyên tranh chấp thừa kế | luật sư bào chữa tại tòa án | luật sư quận bình tân | Dịch thuật công chứng tại tphcm | luật sư giỏi và uy tín | luật sư tư vấn tại nhà | luật sư tư vấn hợp đồng mua bán nhà đất | mẫu hợp đồng mua bán nhà | mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán nhà | luật sư chuyên hình sự | luật sư tư vấn thu hồi nợ | luật sư chuyên nhà đất | luật sư chuyên về khiếu nại, khởi kiện | luật sư giỏi về nhà đất | luật sư chuyên hợp đồng kinh tế | luật sư tư vấn hợp đồng mua bán hàng hóa | luật sư tư vấn tại bình dương | luật sư tại biên hòa đồng nai | Văn phòng luật sư tư vấn ly hôn | Luật Sư tư vấn tại Long An | Luật sư tư vấn tại cần thơ | Văn Phòng Luật Sư Chuyên Thừa Kế | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn | Luật Sư Làm Chứng | Tư Vấn Công Chứng Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Cho Người Nước Ngoài | Luật Sư Riêng Cho Công Ty | Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Về Thuế Kế Toán | Tư Vấn Công Chứng Tại Nhà | Luật Sư Thừa Kế Tại Tphcm | Tư Vấn Luật Cho Việt Kiều Mỹ | Luật Sư Tư Vấn Cho Việt Kiều Mua Nhà Tại Việt Nam | Luật Sư Tại Thành Phố Hồ Chí Minh | Luật Sư Tư Vấn Luật Lao Động | Luật Sư Riêng Cho Các Doanh Công Ty Tại Sài Gòn | Luật Sư Quận Tân Bình | Luật Sư Cho Doanh Nghiệp | luật sư riêng cho các công ty | luật sư tư vấn thừa kế nhà đất cho việt kiều | luật sư riêng cho công ty nước ngoài tại việt nam | Đoàn luật sư tphcm - VPLS Gia Đình | Tư vấn chia tài sản khi ly hôn | luật sư tư vấn tranh chấp tại toà án | ly hôn có yếu tố nước ngoài | luật sư bào chữa tại tòa án tphcm | luật sư bào chữa tại tòa án quận 1 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 2 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 3 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 4 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 5 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 6 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 7 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 8 | Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất quận 9, quận 2 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 10 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 11 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 12 | luật sư bào chữa tại tòa án tân bình | luật sư bào chữa tại tòa án bình chánh | luật sư bào chữa tại tòa án bình tân | luật sư bào chữa tại tòa án tân phú | luật sư bào chữa tại tòa án phú nhuận | luật sư bào chữa tại tòa án bình dương | luật sư bào chữa tại tòa án biên hòa đồng nai | Luật Sư Chuyên Về Di Chúc | luật sư bào chữa tại tòa án bình thạnh | Tư vấn du học xin visa | Luật sư tranh chấp nhà đất | Luật sư tư vấn di chúc | Luật sư tư vấn thương mại | luật sư tranh tụng tại tòa án | luật sư tư vấn hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất | luật sư chuyên tư vấn hợp đồng thuê nhà | Văn Phòng Luật Sư Chuyên Hình Sự Tại Tphcm | Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng | Luật sư tranh chấp bất động sản | Văn phòng luật sư doanh nghiệp | Luật Sư Bào Chữa Tại TPHCM | Luật sư tư vấn hợp đồng vay tiền | Thủ tục tuyên bố 1 người tâm thần | Luật sư tư vấn tranh chấp công ty | luật sư tư vấn thu hồi nợ | luật sư tư vấn thuận tình ly hôn | luật sư tư vấn đơn phương ly hôn | Luật sư tư vấn tranh chấp đất đai | Dịch vụ luật sư làm sổ hồng sổ đỏ | Luật Sư Tố Tụng | Dịch Vụ Luật Sư Ly Hôn Nhanh | Luật sư tư vấn ly hôn tại quận 5, quận 11 | Luật Sư Tư Vấn Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng | luật sư tư vấn thừa kế theo di chúc | Luật sư tư vấn phân chia thừa kế quận 6, quận 11, quận 10, quận 5 | Luật sư thừa kế tại quận 1, quận 2, quận 3, quận 4, quận 7 | Luật sư tư vấn phân chia thừa kế tại quận 8, quận 9, quận 12 | Luật sư phân chia thừa kế tại bình chánh, Tân Phú, Bình Thạnh, nhà bè | Luật Sư Cho Doanh Nghiệp | Luật Sư Chuyên Tư Vấn Thừa Kế Tại Quận 5 | Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự, ly hôn, thừa kế, nhà đất, doanh nghiệp | Trung tâm tư vấn pháp luật hình sự, ly hôn, thừa kế, nhà đất, doanh nghiệp | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Mua Bán Nhà | Tư Vấn Công Chứng Thừa Kế | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Kinh Doanh | Luật Sư Tư Vấn Soạn Thảo Hợp Đồng | Thừa Kế Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn Đòi Lại Nhà Đất | Dịch Vụ Luật Sư Thu Hồi Nợ Khó Đòi | Tranh chấp Cổ Đông/Nội Bộ Công Ty | Khởi Kiện Bồi Thường Danh Dự Nhân Phẩm | Luật Sư Tranh Chấp Thừa Kế Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Nhà | Luật Sư Chuyên Tư Vấn Khởi Kiện | Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình | Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng Góp Vốn | Tranh Chấp Tài Sản Chung Của Vợ Chồng | Luật Sư Giỏi Uy Tín Tại Việt Nam | Luật Sư Tại Sài Gòn Việt Nam Tư Vấn Cho Việt Kiều | Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Trọng Tài | Dịch Vụ Thành Lập Công Ty Trọn Gói Tại Tphcm | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Doanh Nghiệp | Tổng Đài Tư Vấn Pháp Luật | Luật Sư Tư Vấn Mua Nhà Đang Thế Chấp Ngân Hàng | Quyền Thừa Kế Nhà Đất Người Việt Nam Định Cư Ở Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn Tặng Cho Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Đứng Tên Dùm Nhà Đất/Căn hộ Chung Cư | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Cho Việt Kiều | Luật Sư Tư Vấn Mua Bán Căn hộ | Văn Bản Thỏa Thuận Tài Sản Của Vợ Chồng | Tư Vấn Pháp Luật Thừa Kế | Luật Sư Tư Vấn Trọn Gói Cho Doanh Nghiệp | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Thạnh, Bình Tân, Quận 6, Gò Vấp | Luật Sư Sài Gòn Chuyên Bào Chữa Ở Miền Tây | Dịch Vụ Luật Sư Đòi Nợ | Luật Sư Tư Vấn Mua Đất Nền | Luật Sư Tư Vấn Đơn Phương Ly Hôn Tại Quận 6 | Luật Sư Chuyên Giải Quyết Tranh Chấp Tài Sản Với Người Nước Ngoài | Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Đất | Thành Lập Chi Nhánh/Văn Phòng Đại Diện | Luật Sư Tư Vấn Công Ty Cổ Phần | Luật Sư Chuyên Tư Vấn Khai Di Sản Thừa Kế | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Thừa Kế Nhà Đất Tại Biên Hòa | Tranh Chấp Hợp Đồng Thuê Nhà | Điều Kiện Việt Kiều Mua Nhà Sài Gòn | Tư Vấn Bồi Thường Khi Bị Thu Hồi Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Nội Bộ Gia Đình/Doanh Nghiệp | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Mua Bán Căn Hộ Chung Cư | Các Video Luật Sư Trần Minh Hùng Trả Lời Trên Đài Truyền Hình HTV Và THVL | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Lao Động | Luật Sư Tư Tranh Chấp Mua Bán Đất Nền | Luật Sư Tại Chợ Lớn | Luật Sư Tư Vấn Về Án Phí | Tư Vấn Khởi Kiện Tranh Chấp Đất Đai | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Đặt Cọc | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Ranh Giới Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Lối Đi Chung | Giới thiệu | Luật Sư | Luật Sư Thừa kế | Thành Công Đạt Được | Luật Sư Riêng Cho Gia Đình Và Doanh Nghiệp | Báo Chí Và Chúng Tôi | Luật Sư Doanh Nghiệp | Luật Sư Nhà Đất | Luật Sư Di Trú | Luật sư Dân sự | Luật Sư Hình Sự | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn | Luật Sư Tranh Tụng | Luật sư tư vấn luật lao động | Văn phòng luật sư tư vấn cho việt kiều | Luật sư Chuyên Kinh Tế | Luật Sư Giỏi Về Hình Sự | Luật Sư Tư VấnTthừa Kế Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Doanh Nghiệp | Luật Sư Thi Hành Án | Luật Sư Tư Vấn Miễn Phí | Dịch Thuật Công Chứng | Luật Sư Riêng Cho Công Ty Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn | Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng | Luật Sư Công Nợ | Luật Sư Chuyên Tranh Tụng Tại Tphcm | Luật Sư Kinh Tế | Luật Sư Kinh Nghiệm | Hỏi đáp pháp luật | Văn bản pháp luật | Liên Hệ

  ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH

Chúng tôi tư vấn cho tất cả các khách hàng tại quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, tân bình, phú nhuận, Bình Thạnh, bình tân, tân phú, bình chánh... và các tỉnh trong cả nước. Chúng tôi tư vấn tận nhà, tận công ty nếu quý khách có nhu cầu thì liên hệ các luật sư gần nhất địa điểm quý vị đang sinh sống.

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Quận 6, TP.HCM (bên cạnh Phòng công chứng số 7).

Chi nhánh tại Biên Hòa, Đồng Nai: 5/1 Nguyễn Du, Quang Vinh, Biên Hoà, Đồng Nai (đối diện Toà án Tp. Biên Hòa).

NG: 68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, Quận 1.



Luật Sư Trần Minh Hùng, Trưởng văn phòng, điện thoại:

 0972238006 - Bàn: 028.38779958

       Để thuận tiện cho quý vị muốn gặp trực tiếp luật sư, vui lòng điện thoại trước cho luật sư khi quý vị đến văn phòng chúng tôi. Trân trọng cảm ơn.




Email: vanphongluatsugiadinh@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net.vn


Giấy phép số: 41.01.1999/TP/ĐKHĐ do Sở tư pháp Tphcm cấp 03/06/2013, chủ sở hữu website: Văn phòng luật sư Gia Đình