Luật sư gia đình
Chúng tôi là hãng luật tập trung các luật sư xuất thân trong các Gia Đình yêu nghề luật. Với phương châm đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật luật cung cấp tất cả các dịch vụ pháp lý tổng hợp trên mọi lĩnh vực nhằm đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức và thân chủ.
                                   LS TRẦN MINH HÙNG - Trưởng Hãng Luật Gia Đình
 
 
luật sư nhà đất thừa kế
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
luật sư chuyên nhà đất tại tphcm
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
luật sư nhà đất
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Hãng Luật Uy Tín Về Nhà Đất Thừa Kế Tại Việt Nam
luật sư doanh nghiệp
Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình
luật sư nhà đất
luật sư tư vấn
luật sư doanh nghiệp
Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình
Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình
luật sư doanh nghiệp
luật sư doanh nghiệp
luật sư thừa kế
luật sư doanh nghiệp
luat su nha dat
luật sư tư vấn chia tài sản khi ly hôn
luật sư thừa kế
luat su nha dat
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư ly hôn
luật sư doanh nghiệp
luat su tu van ly hon
luật sư nhà đất
luat su nha dat
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư trả lời báo chí
luật sư nhà đất
luật sư riêng cho công ty
luật sư tư vấn tại tphcm
luật sư cho công ty
luật sư bào chữa tại tòa về kinh tế
luật sư doanh nghiệp
luật sư nhà đất
luật sư riêng cho công ty
luật sư riêng
hình báo
ls
kinh tế
tranh tụng
kinh doanh
nhà đất
doanh nghiệp
hình tu van tại nhà
luật sư nhà đất
luat su doanh nghiep
hung1
hinh luat su
luat su
luat su
luat su
Hình 1
Hình 2
Hình 3

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ

luật sư công ty
luật sư thừa kế nhà đất
Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Hợp Đồng
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư nhà đất thừa kế ly hôn doanh nghiệp
luật sư tư vấn ly hôn
luật sư nhà đất
luật sư thừa kế
ls
Nhờ người thân đứng tên giùm, Việt kiều dễ mất nhà
Nhờ người thân đứng tên giùm, Việt kiều dễ mất nhà

Nhờ người thân đứng tên giùm, Việt kiều dễ mất nhà

TTO - Mặc dù luật đã quy định người Việt định cư ở nước ngoài được mua nhà ở VN nhưng do ngại mất thời gian, thủ tục… nên nhiều người chuyển tiền nhờ người thân, người quen ở VN đứng tên.

Điều kiện bảo vệ người thứ ba ngay tình
Điều kiện bảo vệ người thứ ba ngay tình
Điều kiện bảo vệ người thứ ba ngay tình 
(Cập nhật: 01/01/2018 10:05:58) 

Bộ luật dân sự đã có quy định cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình. So với các BLDS trước đây, BLDS 2015 đã quy định chặt chẽ hơn, chi tiết hơn và theo hướng bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người thứ ba ngay tình có thiện chí khi giao dịch dân sự vô hiệu. Các điều kiện để người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi khi giao dịch dân sự vô hiệu theo BLDS 2015:

Luật Sư Tư Vấn Kiện Đòi Nhà Đất Đứng Tên Dùm
Luật Sư Tư Vấn Kiện Đòi Nhà Đất Đứng Tên Dùm

Thứ nhất, đối với việc khởi kiện để đòi lại đất

 

Theo quy định tại Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.

 

Như vậy, việc một người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định người đó là chủ sở hữu đối với quyền sử dụng đất đó.

 

Tuy nhiên, theo thông tin mà anh cung cấp thì bạn anh có dùng tiền của mình để mua đất do bạn gái đứng tên. Do vậy, trường hợp khi bạn gái không muốn trả lại thì bạn anh có quyền khởi kiện lên Tòa án để yêu cầu bạn gái trả lại số tiền mà anh đã chi để mua mảnh đất đó, có thể dựa vào các giấy tờ chuyển tiền hoặc các căn cứ khác (nếu có) để chứng minh.

 

Thứ hai, đối với giấy xác nhận việc đứng tên hộ

 

Theo quy định của pháp luật thì đây là giấy tờ không buộc phải công chứng. Tuy nhiên để xem xét hiệu lực pháp lý còn cần phải căn cứ vào các yếu tố khác theo quy định tại Khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015. Cụ thể:

 

"1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

 

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

 

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội."

 

Và khi khởi kiện thì có thể dùng giấy này như một căn cứ để chứng minh để đòi lại số tiền đã đưa để mua đất...

 

 

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, các vụi Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.


ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
 
 
Luật Sư Tư Vấn Đòi Lại Nhà Đứng Tên Dùm
Luật Sư Tư Vấn Đòi Lại Nhà Đứng Tên Dùm

 Theo quy định tại khoản 16 điều 3 Luật Đất đai 2013: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ), quyền sở hữu nhà ở (QSHNƠ) và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận QSDĐ, QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có QSDĐ, QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất". Như vậy, xét về mặt pháp lý, người đứng tên trên giấy chứng nhận QSH nhà là căn cứ để xác định QSH đối căn nhà đó.

Tuy nhiên, nếu có giấy tờ chứng minh việc bạn nhờ cô X. đứng tên dùm nhà thì bạn có thể khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án để đòi lại tài sản.

Căn cứ theo Án lệ số 02/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thông qua ngày 6-4-2016, nếu bạn có đủ chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất được mua do tiền của bạn thì sẽ được tòa án giải quyết theo hướng cô X. phải trả lại số tiền gốc cho bạn. Bên cạnh đó, đối với việc căn nhà đã bán cho người khác thì thường tòa án sẽ không yêu cầu buộc trả lại nhà. Tuy nhiên, với phần tiền chênh lệch do giá nhà được bán cao hơn, tòa án sẽ xem xét và xác định công sức đóng góp của các bên như công sức tôn tạo, cải tạo căn nhà, làm tăng giá trị căn nhà … để chia phần chênh lệch cho các bên tương xứng.

Đây là vụ án dân sự tranh chấp tài sản chứ chưa đủ yếu tố để cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nếu bên nhận đứng tên nhà dùm có những thủ đoạn lừa dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, có thể sẽ bị xử lý hình sự về các tội tương ứng nếu cơ quan điều tra chứng minh được.

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, các vụi Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.


ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Thủ Tục Kiện Đòi Lại Nhà Đất
Thủ Tục Kiện Đòi Lại Nhà Đất Theo như anh trình bày, sổ đỏ mang tên bạn của anh, hơn nữa, nếu quyền sử dụng đất có được trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản này sẽ thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Như vậy, quyền sử dụng mang tên bạn anh sẽ thuộc quyền sở hữu của cả vợ và chồng; vợ và chồng có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản trên.

Tuy nhiên, anh có trình bày là thửa đất là là do anh nhờ bạn anh đứng tên mua và đăng ký quyền sở hữu. Căn cứ duy nhất để khởi kiện đòi lại thửa đất trên là “ thỏa thuận giao tiền mua đất và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Nếu thỏa thuận trên được lập, có đầy đủ chữ ký của hai bên thì đây sẽ là căn cứ chứng minh rằng có việc nhận tiền, bàn giao công việc giữa anh và bạn của anh. Dựa vào chứng cứ trên, Tòa án sẽ xem xét để ra quyết định có hay không đồng ý yêu cầu của anh.

Trình tự, thủ tục nộp đơn khởi kiện như sau:

Thành phần hồ sơ bao gồm:

- Đơn khởi kiện (theo mẫu);

- Biên bản thỏa thuận giữa hai bên về việc giao tiền, và thực hiện công việc;

- Bản sao chứng minh thư nhân dân ( có chứng thực);Tòa án nộp hồ sơ và đơn khởi kiện:

“ Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”.

Tòa án có thẩm quyền là Tòa án quận, huyện, thành phố nơi bị đơn cư trú, làm việc sẽ nhận đơn khởi kiện và chứng cứ liên quan.

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu bạn sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm là đối tác tư vấn pháp luật rất nhiều năm, thường xuyên, liên tục trả lời phỏng vấn trên Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.


ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Án Lệ Về Đứng Tên Dùm Nhà Đất
Án Lệ Về Đứng Tên Dùm Nhà Đất

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 27/2010/DS-GĐT ngày 08-7-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” tại tỉnh Sóc Trăng giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thảnh với bị đơn là ông Nguyễn Văn Tám; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Yêm.

Khái quát nội dung của án lệ:

Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người ở trong nước đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ mình, khi giải quyết tranh chấp thì Tòa án phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ; trường hợp không xác định được chính xác công sức của người đó thì cần xác định người thực chất trả tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Điều 137 và Điều 235 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Từ khóa của án lệ:

“Giao dịch dân sự vô hiệu”; “Đòi lại tài sản”; “Căn cứ xác lập quyền sở hữu”; “Xác lập quyền sở hữu đối với lợi tức”; “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24-01-2005, tờ khai ngày 07-02-2005 và quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Thảnh là nguyên đơn trình bày:

Bà Thảnh là Việt kiều ở Hà Lan về thăm thân nhân tại Việt Nam và có ý định chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên ngày 10-8-1993, bà có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hêng Tính, bà Lý Thị Sà Quênh diện tích 7.595,7m2 đất ruộng tại Phường 7, thị xã Sóc Trăng với giá 21,99 chỉ vàng. Bà là người trực tiếp giao dịch, thỏa thuận việc chuyển nhượng và trả tiền, vàng cho vợ chồng ông Hêng Tính. Mục đích của bà Thảnh là chuyển nhượng đất để giao cho em ruột của bà là ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị Chính Em canh tác nuôi cha mẹ của bà và ông Tám. Do bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên bà để cho ông Tám đứng tên trong giấy tờ sang nhượng. Đồng thời, bà Thảnh xuất trình “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993 có xác nhận của UBND xã An Hiệp. Sau khi nhận chuyển nhượng bà để cho vợ chồng ông Tám canh tác, nhưng năm 2004, không được bà đồng ý, ông Tám đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích 7.595,7m2 đất trên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu với giá trị quyền sử dụng đất là 1.260.000.000 đồng. Vì vậy, bà yêu cầu ông Tám trả lại số tiền thu được từ việc chuyển nhượng đất của bà.

Ông Nguyễn Văn Tám là bị đơn trình bày:

Diện tích 7.595,7m2 đất mà bà Thảnh tranh chấp là đất do vợ chồng ông là người bỏ tiền, vàng ra sang nhượng lại của vợ chồng ông Hêng Tính, ông là người đứng tên trong “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993. Tờ sang nhượng này không có xác nhận của chính quyền địa phương. Nhưng sau đó, ông và vợ chồng ông Hêng Tính còn ký bản hợp đồng và đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 11-8-1993, các văn bản này có xác nhận của UBND xã An Hiệp và của UBND huyện Mỹ Tú đồng ý cho chuyển nhượng. Sau khi chuyển nhượng ông đã đăng ký, kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 28-5-1994. Do đó, năm 2004, ông chuyển nhượng toàn bộ đất trên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu với giá trị là 1.260.000.000 đồng. Ông cho rằng “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã An Hiệp do bà Thảnh xuất trình là giả vì theo Bản kết luận giám định số 2784/C21 (P7) ngày 25-10-2005 của Viện Khoa học Hình sự Tổng cục cảnh sát thì không phải chữ ký của ông trong tờ sang nhượng đất ruộng do bà Thảnh xuất trình. Vì vậy, ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Thảnh.

Bà Nguyễn Thị Yêm (vợ của ông Tám) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Năm 1993 vợ chồng bà có chuyển nhượng đất của ông Hêng Tính. Khi làm thủ tục chuyển nhượng bà không tham gia nhưng bà có đưa tiền, vàng cho ông Tám trả cho vợ chồng ông Hêng Tính nên bà cũng không chấp nhận theo yêu cầu của bà Thảnh.

Vợ chồng ông Hêng Tính, bà Lý Thị Sà Quênh (tên gọi khác là Lý Thị Sà Vênh) là người chuyển nhượng đất đều khẳng định bà Thảnh trực tiếp thỏa thuận chuyển nhượng, trực tiếp trả 21,99 chỉ vàng cho ông, bà và bà Thảnh để cho ông Tám đứng tên giùm trong tờ sang nhượng đất ruộng lập ngày 10-8-1993; chữ ký trong tờ sang nhượng đất ruộng do bà Thảnh xuất trình đúng là chữ ký của ông, bà.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thảnh về việc đòi lại tiền chuyển nhượng đất.

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Tám, bà Nguyễn Thị Yêm phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thảnh 630.000.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí giám định và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 10-5-2006, ông Nguyễn Văn Tám kháng cáo cho rằng bà Thảnh không phải là người có quyền sử dụng phần đất mà ông đã chuyển nhượng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông thanh toán cho bà Thảnh 630.000.000 đồng là không đúng.

Ngày 12-5-2006, ông Nguyễn Hữu Phòng (đại diện cho bà Thảnh) kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử buộc ông Tám trả lại toàn bộ số tiền mà ông Tám đã chuyển nhượng đất là 1.260.000.000 đồng cho bà Thảnh.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DS-PT ngày 25-8-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm như sau:

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thảnh về việc đòi lại tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Buộc ông Nguyễn Văn Tám, bà Nguyễn Thị Yêm có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thảnh số tiền 27.047.700 đồng tương đương 21,99 chỉ vàng 24k.

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị Yêm phải nộp lại số tiền 1.232.266.860 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Tám khiếu nại Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 449/2009/KN-DS ngày 21-8-2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DS-PT ngày 25-8-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật, với nhận định:

“Bà Nguyễn Thị Thảnh khởi kiện đòi lại tài sản đối với ông Nguyễn Văn Tám và cho rằng do bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên bà có nhờ ông Tám (em của bà) đứng tên nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hêng Tính giùm cho bà nhưng sau đó ông Tám đã chuyển nhượng đất của bà cho người khác.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông Tám chỉ đứng tên nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hêng Tính giùm cho bà Thảnh là có căn cứ.

Do bà Thảnh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nên bà Thảnh không được giao đất mà chỉ được trả lại phần giá trị đầu tư tiền chuyển nhượng đất.

Đối với chênh lệch giá trị đất, thời điểm xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm là thời điểm thi hành Bộ luật dân sự năm 2005, không có quy định buộc phải tịch thu sung công quỹ nên khoản chênh lệch này bà Thảnh và ông Tám cùng được hưởng. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc ông Tám nộp số tiền chênh lệch giá trị đất để sung công là có căn cứ nhưng không buộc ông Tám trả cho bà Thảnh giá trị đầu tư ban đầu là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm không đưa ra được căn cứ pháp luật nhưng đã buộc ông Tám nộp toàn bộ số tiền chênh lệch (1.232.226.860 đồng) để sung công quỹ Nhà nước là không đúng quy định, của pháp luật”.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Bà Nguyễn Thị Thảnh khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Tám trả lại cho bà 1.260.000.000 đồng vì cho rằng bà là người trực tiếp giao dịch, trả tiền nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hêng Tính 7.595,7m2 đất, nhưng vì bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên nhờ ông Tám (em của bà) đứng tên, nhưng không được bà đồng ý ông Tám đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho Công ty TNHH Minh Châu để nhận 1.260.000.000 đồng.

Ông Tám cho rằng ông là người thỏa thuận chuyển nhượng đất và trả tiền cho ông Hêng Tính, nên giấy tờ chuyển nhượng đất ông đứng tên. Sau khi nhận chuyển nhượng ông trực tiếp quản lý sử dụng, đăng ký kê khai, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi ông chuyển nhượng cho Công ty TNHH Minh Châu được chính quyền cho phép, nên ông không chấp nhận yêu cầu của bà Thảnh.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án vợ chồng ông Tám có nhiều lời khai mâu thuẫn về số tiền, vàng đã trả cho ông Hêng Tính và ông cũng không chứng minh được nguồn gốc nguồn tiền vàng mà ông cho rằng đã trả cho ông Tính.

Trong khi đó vợ chồng ông Tính, bà Quênh khẳng định chỉ thỏa thuận chuyển nhượng đất và nhận vàng của bà Thảnh còn việc viết giấy chuyển nhượng đất đứng tên ông Tám là theo yêu cầu của bà Thảnh, vì bà Thảnh đang định cư ở nước ngoài.

Theo lời khai của cụ Thái Thị Ba, ông Nguyễn Phước Hoàng, bà Nguyễn Thị Chính Em (là mẹ và anh chị em ruột của bà Thảnh, ông Tám) thì bà Thảnh giao dịch, trả tiền chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Tính, còn ông Tám chỉ là người đứng tên giùm.

Tổng hợp các chứng cứ nêu trên có cơ sở khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Thảnh là người bỏ toàn bộ số tiền là 21,99 chỉ vàng để nhận chuyển nhượng diện tích trên, còn ông Tám chỉ là người đứng tên giùm. Do ông Tám đã chuyển nhượng đất trên cho Công ty TNHH Minh Châu và bà Thảnh chỉ yêu cầu ông Tám trả lại số tiền đã chuyển nhượng là 1.260.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển nhượng đất (tương đương khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).

Tòa án cấp sơ thẩm công nhận bà Thảnh, ông Tám mỗi người có quyền sở hữu 1/2 số tiền trên nhưng không trích trả cho bà Thảnh số tiền tương ứng với 21,99 chỉ vàng là không đúng.

Tòa án cấp phúc thẩm chỉ công nhận bà Thảnh có quyền sở hữu số tiền tương ứng với 21,99 chỉ vàng, còn lợi nhuận là số tiền còn lại tịch thu sung công quỹ nhà nước là không đúng với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, không đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

Ngoài ra, bà Thảnh khởi kiện yêu cầu ông Tám trả cho bà 1.260.000.000 đồng là số tiền ông Tám chuyển nhượng giá trị quyền sử dụng 7.595,7m2 đất, mà không tranh chấp quyền sử dụng đất, còn ông Tám cho rằng số tiền trên là của ông. Như vậy, các đương sự tranh chấp quyền sở hữu tài sản là số tiền nêu trên. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi lại tài sản” là không chính xác.

Bởi các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DSPT ngày 25-8-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về vụ án tranh chấp đòi lại tài sản giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thành với bị đơn là ông Nguyễn Văn Tám; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Yêm.

2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển nhượng đất (tương đương khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).”

Tư Vấn Khởi Kiện Đòi Nhà Đất
Tư Vấn Khởi Kiện Đòi Nhà Đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

 

BẢN TỰ KHAI BỔ SUNG

Hôm nay ngày … tháng … năm 2018. Tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp.Hồ Chí Minh tôi xin tự khai như sau:

NGƯỜI TỰ KHAI:

Họ tên                  :

CMND số             ::

Điện thoại            :

Là người đại diện theo ủy quyền hợp pháp của ông Trần Hữu Nam là nguyên đơn trong vụ việc “Tranh chấp đòi tài sản” với bị đơn là ông Nguyễn Phước Thanh Sơn, hiện đang được Tòa án nhân dân Tp.HCM thụ lý và giải quyết theo trình tự sơ thẩm.

Sau đây tôi kính trình bày lên Quý Tòa án với nội dung sau:

Vào ngày …tháng … năm 2018 tôi có nộp bản tự khai có một phần nội dung liệt kê tổng các lần chuyển tiền ông Nguyễn Phước Thanh Sơn còn giữ lại Giấy chuyển tiền là 21.000 USD. Còn lại các lần chuyển tiền khác ông Nam chưa cung cấp được do Giấy chuyển tiền bị thất lạc. Tổng tất cả các lần chuyển tiền về Việt Nam vào tài khoản của Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn là 30.000 USD.

Tuy nhiên hiện nay ông Nam đã cũng cấp thêm giấy tờ, tài liệu hóa đơn chứng từ liên quan về việc chuyển tiền cho ông Nguyễn Phước Thanh Sơn số tiền còn lại: 9.000 USD.

Cụ thể:

-         Ngày  12 tháng 7 năm 2015 chuyển cho Nguyễn Phước Thanh Sơn số tiền: 3.000 USD.

-         Ngày 12 tháng 8 năm 2015 chuyển cho Nguyễn Phước Thanh Sơn số tiền: 3.000 USD.

-         Ngày 12 tháng 9 năm 2015 chuyển cho Nguyễn Phước Thanh Sơn số tiền: 3.000 USD.

                                                                                                       Tổng cộng là:  9.000 USA                  

Như vậy căn cứ vào giấy tờ, tài liệu hóa đơn chứng từ ông Nam đã chuyển tổng cộng cho ông Sơn là: 30.000 USD.

Đồng thời, căn cứ vào giấy hẹn trả tiền do ông Sơn ký nhận có nội dung: ông Nguyễn Phước Thanh Sơn có nhận của cậu ruột Trần Hữu Nam một số tiền mua nhà là: 565.000.000 đồng (năm trăm sáu mươi lăm triệu đồng).

Bởi lẽ trên, nay bằng bản tự khai bổ sung này tôi này gửi tới Quý Tòa án xem xét, giải quyết cho ông Trần Hữu Nam với yêu cầu:

-         Buộc Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn phải tiến hành thực hiện sang tên nhà đất nêu trên lại cho Trần Hữu Nam hoặc cho một người thứ ba do ông Nam chỉ định có tên là: ………………….., sinh ngày: ………. CMND số: …………………, địa chỉ thường trú: ……………………

Kính mong Quý Tòa án xem xét, giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Hữu Nam theo quy định pháp luật.

Trân trọng cảm ơn!

                                                                                     Người tự khai

 

 

Tài liệu đính kèm:

Giấy hẹn trả tiền do ông Nguyễn Phước Thanh Sơn ký tên ( bản photo)
Đơn Tố Cáo Đứng Tên Dùm Nhà Đất Và Chiếm Đoạt Tài Sản
Đơn Tố Cáo Đứng Tên Dùm Nhà Đất Và Chiếm Đoạt Tài Sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Tp.HCM, ngày… tháng…. năm 2018

ĐƠN TỐ CÁO

(Về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi đe dọa giết người của ông Nguyễn Phước Thanh Sơn)

Kính gửi: CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGƯỜI TỐ CÁO:

Họ tên                              :                             Sinh năm: 1952

Hộ chiếu số                     :      Cấp ngày: 18/01/2018         Nơi cấp: USA

Địa chỉ thường trú         

Điện thoại                       

NGƯỜI BỊ TỐ CÁO:

Họ tên                              :                  Sinh năm: 1971

CCCD số                          :                          

Địa chỉ thường trú         

Địa chỉ liên hệ               

TP. HCM.

Điện thoại liên lạc          :  0949317168.

NỘI DUNG ĐƠN TỐ CÁO BỔ SUNG:

Nguyên tôi là Trần Hữu Nam là cậu ruột của Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn. Khoảng cuối năm 2015 tôi có ý định mua nhà ở, đất ở tại Việt Nam vì sau này tôi dự tính về quê hương Việt Nam sinh sống. Do trong khoảng thời gian từ cuối năm 2015 đến đầu năm 2017 tôi cư trú ở Mỹ chính vì vậy nên tôi đã chuyển tiền về Việt Nam vào tài khoản của cháu ruột tôi là Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn tại ngân hàng Vietinbank với mục đích nhờ Ông Sơn đứng tên mua hộ dùm tôi nhà ở, đất ở tại Việt Nam đồng thời đứng tên dùm tôi trên Giấy chứng nhận. Sau khi tôi về nước thì Ông Sơn phải làm thủ tục sang tên nhà ở, đất ở đã mua lại cho tôi.

Từ khoảng thời gian cuối năm 2015 đến đầu năm 2017 tôi đã chuyển tiền về Việt Nam nhiều lần vào tài khoản của Ông Sơn tổng cộng là 30.000 USD (ba mươi nghìn đô la). Bao gồm 27.000 USD để mua nhà ở và đất ở và 3.000 USD để mua nội thất trong nhà: tivi, tủ lạnh, máy giặt…có kèm theo Giấy chuyển tiền của ngân hàng Wells Fargo. Cụ thể như sau:

Ngày 12/5/2015 tôi chuyển vào tài khoản của cháu Sơn số tiền: 4.000 USD.

Ngày 21/7/2016 tôi chuyển vào tài khoản của cháu Sơn số tiền: 2.000 USD.

Ngày 20/9/2016 tôi chuyển vào tài khoản của cháu Sơn số tiền: 3.000 USD.

Ngày 21/9/2016 tôi chuyển vào tài khoản của cháu Sơn số tiền: 3.000 USD.

Ngày 22/9/2016 tôi chuyển vào tài khoản của cháu Sơn số tiền: 3.000 USD.

Ngày 18/10/2016 tôi chuyển vào tài khoản của cháu Sơn số tiền: 3.000 USD.

Ngày 21/10/2016 tôi chuyển vào tài khoản của cháu Sơn số tiền: 2.000 USD.

Ngày 20/3/2017 tôi chuyển vào tài khoản của cháu Sơn số tiền: 1.000 USD.

Tổng các lần chuyển tiền tôi còn giữ lại Giấy chuyển tiền là 21.000 USD. Còn lại các lần chuyển tiền sau tôi không còn giữa Giấy chuyển tiền. Tổng tất cả các lần chuyển tiền về Việt Nam vào tài khoản của Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn là 30.000 USD. Tôi có đầy đủ chứng từ chuyển tiền hợp lệ.

Sau khi nhận số tiền tôi chuyển về Ông Sơn ký hợp đồng mua bán nhà ở, đất ở với Ông Nguyễn Văn Độ để nhận chuyển nhượng nhà, đất tại Thửa 550; Tờ bản đồ số 79; diện tích là 28m2; Tọa lạc tại địa chỉ 1959/33/17 Lê Văn Lương, Ấp 4, Xã Nhơn Đức, Huyện Nhà Bè, TP. HCM theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 973174 với giá là 565.000.000 đồng (năm trăm sáu mươi lăm triệu đồng). Sau đó Ông Sơn làm thủ tục sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, đồng sở hữu với các Ông/Bà Ông Nguyễn Văn Trên, Nguyễn Thị Diễm Vân,  Huỳnh Kim Hùng, Lê Nguyễn Thùy Trang. Đến nay khi tôi về Việt Nam tôi yêu cầu Ông Sơn sang tên nhà đất mà Ông Sơn đã mua dùm tôi thì Ông Sơn không đồng ý.

Có thể khẳng định Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn đã dùng thủ đoạn gian dối khi tạo cho tôi sự tin tưởng nhằm mục đích chiếm tài sản trên của tôi. Đồng thời, gần đây ông Sơn còn có hành vi đ dọa dùng vũ lực để xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của tôi gây ảnh hưởng rất lớn tới tinh thần của tôi trong thời gian qua. Rõ ràng qua hành vi của ông Sơn tôi thấy ông Sơn có có thể gây nguy hiểm đến tính mạng cho tôi và có thể giết tôi làm tôi hết sức hoang mang và lo lắng. Mặc dù tôi định cư ở nước ngoài nhưng do tôi là người gốc Việt Nam nên mới nhờ ông Sơn là cháu đứng tên nhà để sau này về lại Việt nam ở hưởng tuổi già ở đất tổ. Tôi sinh sống ở phương trời xa nhưng luôn nghĩ về quê hương ruột thịt nên đã cố gắng làm việc dành dụm ngày đêm để gom góp ít làm công ặn lương về mua căn nhà lo tuổi già. Nhưng không ngờ khi tuổi đã cao sức yếu thì ông Sơn đã dã tâm chiếm đoạt tài sản tôi. Khi thấy tôi tố cáo ông Sơn đã đe dọa giết tôi đẻ cho tôi sợ không dám về Việt nam để đòi nhà tạo cơ hội cho ông Sơn chiếm tài sản tôi bất hợp pháp (đính kèm tin nhắn đe dọa giết tôi).

Qua những thủ đoạn và hành vi như trên, Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn đã chiếm đoạt tài sản của tôi.

Đồng thời, ông Sơn còn có hành vi đe dọa dùng vũ lực để xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của tôi gây ảnh hưởng rất lớn tới tinh thần của tôi trong thời gian qua. Hành vi nhắn tin trên của ông Sơn đã đủ yếu tố cấu thành tội đe dọa giết người theo quy định của Bộ luật hình sự 2015.

 

Như vậy hành vi của Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn có dấu hiệu phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Tội đe dọa giết người” -  căn cứ theo Điều 133, 174, Bộ luật hình sự 2015.

 

Điều 174 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di chúc, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b, chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 điều này.

Điều 133 Tội đe dọa giết người:

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

 

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo đảm quyền sở hữu tài sản, bảo đảm tính mạng cho tôi.

Nay tôi viết đơn này tố cáo bổ sung này để tố cáo Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn. Kính đề nghị Quí cơ quan giải quyết cho những yêu cầu sau đây:

- Xác minh và khởi tố vụ án hình sự để điều tra, đưa ra truy tố, xét xử Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và về hành di đe dọa giết người.

- Buộc Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn phải tiến hành thực hiện sang tên nhà đất nêu trên lại cho tôi.

- Nếu Ông Nguyễn Phước Thanh Sơn không tiến hành thủ tục sang tên nhà đất nêu trên cho tôi thì tôi yêu cầu Ông Sơn phải trả lại tôi số tiền là 30.000 USD mà tôi đã chuyển về Việt Nam cho Ông Sơn mua nhà đất tại địa chỉ nêu trên. Yêu cầu Ông Sơn phải trả một lần số tiền trên cho tôi khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Buộc ông Nguyễn Phước Thanh Sơn phải chấm dứt ngay hành vi đe dọa dùng vũ lực để xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của tôi.

            Tôi cam kết toàn bộ nội dung đã trình bày trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều trình bày trên.

            Tôi cũng như bao người Việt Nam khác muốn về sống lại tại Việt Nam nhưng những con người chỉ lo chiếm đoạt tài sản người khác, còn quay lại đe dọa giết người thì rất khó chấp nhận và cần xử lý nghiêm. Bởi khi xử lý nghiêm các đối tượng này thì mới tại niềm tin cho Việt Kiều chúng tôi hồi hương.

Kính mong được xem xét và giải quyết. Tôi tin vào sự công tâm của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt nam.

Sự việc tôi đã gửi đơn tố cáo lần đầu đến Qúy cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè. Nay tôi tiếp tục gửi tới Quý cơ quan mong Qúy cơ quan sớm giải quyết cho tôi.

 Xin chân thành cảm ơn.        

 

                                                                                     Người tố cáo

 

                                                          

Tài liệu kèm theo:

-         Công văn thông báo và hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè ngày 06/6/2018 gửi cho ông Trần Hữu Nam.


Tư Vấn Đứng Tên Dùm Nhà Đất
Tư Vấn Đứng Tên Dùm Nhà Đất

Cần hủy án lệ Việt kiều nhờ đứng tên mua đất

Thứ Năm, ngày 27/7/2017 - 14:11
(PL0)- Đến nay, tình hình pháp luật đã thay đổi và rõ ràng, nếu giữ án lệ tranh chấp đòi lại tài sản này sẽ tạo ra nhiều hệ quả pháp lý phức tạp
 

Án lệ số 02/2016 về vụ án tranh chấp đòi lại tài sản tại tỉnh Sóc Trăng giữa bà Nguyễn Thị Thảnh và ông Nguyễn Văn Tám đã được TAND Tối cao thông qua vào tháng 4-2016 (quyết định giám đốc thẩm số 27/2010 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao), không còn phù hợp lẽ công bằng và các đạo luật mới ban hành.

Hướng dẫn theo đường lối cũ

Án lệ số 02/2016 lấy từ quyết định giám đốc thẩm số 27/2010 chỉ phù hợp với đường lối giải quyết của TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của Luật đất đai 2003, Luật Nhà ở năm 2005 và BLDS 2005. Trong một thời gian khá dài (gần 10 năm) do các đạo luật thời điểm đó bất cập hạn chế quyền của Việt kiều trong giao dịch bất động sản. Thời điểm mà tòa án các cấp  mỗi mỗi nơi xét xử kiểu…

Cần hủy án lệ Việt kiều nhờ đứng tên mua đất - ảnh 1

Vì vậy, lúc đó tòa Dân sự TAND Tối cao đã có báo cáo tham luận và sau đó hình thành đường lối xét xử các tranh chấp người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quyền sở hữu nhà, phải nhờ người thân đứng tên giùm.

 
 

Án lệ trên là một trong những quyết định áp dụng đương lối hướng dẫn của TAND tối cao thời điểm đó. Cần nói thêm, tuy chỉ là quan điểm TAND tối cao dưới hình thức tham luận, báo cáo, công văn hướng dẫn nhưng sau đó hầu hết TAND các cấp đã xét xử theo quan điểm này.

Đến nay, tình hình pháp luật  đã thay đổi. Cụ thể, khi Hiến pháp 2013 ra đời, hàng loại đạo luật mới đã được ban hành theo hướng đảm bảo quyền con người, nên không thể áp dụng quyết định giám đốc thẩm áp dụng đường lối  từ năm 2010 để trở thành án lệ áp dụng trong tình hình mới.

Sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy xấu

Áp dụng án lệ này sẽ gây nhiều hệ quả pháp lý xấu.

Thứ nhất, sẽ cổ súy cho cho các chủ thể vi phạm Luật Nhà ở 2015, Luật Đất đai 2013 và BLDS 2015 không đủ điều kiên giao dịch nhưng vẫn xác lập giao dịch ngầm, nhà nước không quản lý được.

Thứ hai, đường lối án lệ này giúp cho bên đứng tên giùm “lật kèo” được hưởng lợi từ gia chênh lệch. Cổ súy hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác. Thực tế, đã có vụ người đứng tên giùm tự ý bán tài sản của Việt Kiều nhờ đứng tên bị xử lý hình sự về hành vi chiếm đoạt tài sản; có vụ  khi xử dân sự và người lật kèo được hưởng lợi giá trị chênh lệch như cách phân chia trong án lệ. Thông qua việc công khai án lệ này, bên  lật kèo yêu cầu áp dụng để  được hưởng lợi trái với lẽ công bằng và không có căn cứ luật hiện hành.

Thứ ba, áp dụng án lệ này có thể phát sinh những hậu quả pháp lý gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự trong thi hành án (THA). Chẳng hạn khi THA kê biên nhà đất đứng tên của người phải THA, nhưng sau đó THA phải hoãn thi hành do phát sinh vụ kiện đòi tài sản kê biên với lý do nhà đất bị kê biên tuy đứng tên người phải THA, nhưng họ chỉ là người đứng tên giùm.

Có trường hợp người phải THA còn xuất trình giấy viết tay đứng tên giùm  một Việt Kiềuđể yêu cầu hoãn THA. Ra tòa hai bên  thỏa thuận giao tài sản cho Việt Kiều.  Nếu công nhận như án lệ này thì đương nhiên người THA không còn tài sản để THA. Vô hình trung việc thi hành bản án có hiệu lực và quyết định kê biên trở thành vô nghĩa.  Khi đó quyền lợi hợp pháp của người được THA theo bản án có hiệu lực thành trắng tay.

Do sự biến chuyển của tình hình, sự thay đổi của Hiến pháp và các luật. bộ luật cho thấy  án lệ này không còn phù hợp. Tôi nghĩ hội đồng thầm phán cần xem xét hủy bỏ hoặc thay thế án lệ này theo quy định. Việc xét xử loại án này cần áp dụng các đạo luật mới đã quy định cụ thể.

Đường lối xét xử trong hướng dẫn từ 2008

Đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam, đã gửi tiền về nhờ bạn bè, người thân mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở và nhờ họ đứng tên hộ trong hợp đồng mua bán nhà và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở, thì khi tranh chấp giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài với người đứng tên hộ trong giấy tờ nhà đất cần giải quyết như sau:

-      Phải xác định giao dịch giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài với người đứng tên hộ trong giấy tờ nhà đất là giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Như vậy, khi giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà, có yêu cầu đòi lại nhà đất do người khác đứng tên hộ, thì Tòa án không công nhận cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhờ người khác đứng tên hộ được quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đó. Tuy nhiên, Điều 128 và Điều 137 của BLDS 2005 không quy định phải tịch thu tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được từ giao dịch không hợp pháp. Do đó, tùy trường hợp mà xử lý như sau:

+   Trong trường hợp này phải định giá quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở và nếu người đứng tên hộ có nhu cầu sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đó thì công nhận cho họ được sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Đồng thời, buộc họ phải thanh toán cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài bằng đúng số tiền (vàng) đã bỏ ra để mua nhà đất.

+   Trong trường hợp giá trị nhà và quyền sử dụng đất tại thời điểm định giá để xét xử cao hơn giá lúc mua, thì số tiền (vàng) chênh lệch được chia đôi mỗi bên được nhận một nửa (½).

+   Trong trường hợp giá trị nhà và quyền sử dụng đất tại thời điểm định giá để xét xử thấp hơn giá lúc mua, thì người đứng tên hộ được sở hữu nhà đất chỉ phải hoàn lại cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài số tiền (vàng) đúng giá trị theo định giá tại thời điểm xét xử.

-  Trong trường hợp người đứng tên hộ không đồng ý nhận nhà hoặc không đủ điều kiện trả tiền (vàng) mua nhà cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài để sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, thì Tòa án tuyên phát mãi căn nhà và đất đó:

+ Trường hợp giá trị nhà và quyền sử dụng đất tại thời điểm phát mãi thi hành án cao hơn giá lúc mua, thì trả cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài bằng đúng số tiền (vàng) đã bỏ ra để mua nhà đất, còn số tiền (vàng) chênh lệch được chia đôi mỗi bên được nhận một nửa (½).

+  Trường hợp giá trị nhà và quyền sử dụng đất tại thời điểm phát mãi thi hành án thấp hơn giá lúc mua, thì chỉ phải hoàn lại cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài số tiền (vàng) đúng giá trị phát mãi thi hành án. Trích Tham luận của Tòa Dân sự TAND Tối cao ngày 11-01-2008 
nguồn: Báo pháp luật tphcm
Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai giỏi?
Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai giỏi?

Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Trên thực tế có các dạng tranh chấp đất đai được phân loại như sau:

THỪA KẾ: tranh chấp phân chia tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật;
LY HÔN: tranh chấp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc chia tài sản khi ly hôn có liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở;
THU HỒI ĐẤT: Tư vấn, đại diện cho khách hàng khiếu nại, khởi kiện hành chính đối với các quyết định hỗ trợ bồi thường tái định cư khi thu hồi đất, nhà ở;
CHUYỂN NHƯỢNG – CHO MƯỢN – TẶNG CHO: Giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng cho mượn, giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng mua bán nhà ở;
GÓP VỐN: Tư vấn pháp lý và đại diện giải quyết tranh chấp về góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp;
Các nghiệp vụ pháp lý để giải quyết tranh chấp đất đai, nhà ở

Nghiên cứu các thông tin, tài liệu do Khách hàng cung cấp;
Nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan đến Vụ Việc;
Làm việc với Khách hàng để thu thập thêm thông tin về Vụ Việc (nếu cần thiết);
Tư vấn đánh giá tình trạng pháp lý và đề xuất phương án giải quyết Vụ Việc;
Tư vấn và hướng dẫn cho Khách hàng thu thập, chuẩn bị tài liệu và chứng cứ (nếu có) phục vụ cho việc giải quyết
Vụ Việc tại Tòa án cấp sơ thẩm/phúc thẩm theo quy định của pháp luật;
Tư vấn cho Khách hàng về thủ tục tố tụng sơ thẩm/phúc thẩm áp dụng cho Vụ Việc trong quá trình cung cấp dịch vụ;
Soạn thảo đơn khởi kiện, văn bản yêu cầu giải quyết tranh chấp, văn bản nêu ý kiến của Khách hàng nộp cho ủy ban nhân dân, Tòa án có thẩm quyền ở cấp sơ thẩm/phúc thẩm (trường hợp tòa án yêu cầu);
Tư vấn về việc xem xét khả năng Khách hàng thay đổi nội dung khởi kiện (cấp sơ thẩm), kháng cáo (cấp phúc thẩm) và gửi nội dung đã được sửa đổi đến Tòa án có thẩm quyền ở cấp sơ thẩm/phúc thẩm (nếu có);
Đọc, nghiên cứu, sao chụp các tài liệu liên quan đến Vụ Việc có trong hồ sơ của Tòa án theo quy định của pháp luật;
Tư vấn và hỗ trợ Khách hàng trong quá trình tham gia tố tụng cấp sơ thẩm/phúc thẩm;
Phân tích pháp lý đối với các chứng cứ và/hoặc lập luận của các bên có liên quan để đưa ra các lập luận và quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng;
Cử người làm đại diện theo ủy quyền của Khách hàng để thay mặt Khách hàng tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm/phúc thẩm (nếu có yêu cầu);
Đại diện cho Khách hàng tham gia các buổi hòa giải theo quy định giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;
Chỉ định luật sư làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Khách hàng tại phiên tòa sơ thẩm/phúc thẩm;
Thông báo, cập nhật quá trình giải quyết Vụ Việc và kết quả Vụ Việc cho Khách hàng bằng thư và/hoặc thư điện tử và/hoặc những phương tiện thông tin liên lạc khác.

Án Lệ Đứng Tên Dùm Nhà Cho Việt Kiều
Án Lệ Đứng Tên Dùm Nhà Cho Việt Kiều

Luật đất đai 2003 không cho phép Việt kiều được sở hữu đất tại Việt Nam, nên không ít trường hợp, để lách luật, những Việt kiều có mong muốn sở hữu đất tại Việt Nam đã nhờ người quen hoặc người thân đứng tên hộ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng trớ trêu thay, nhiều nhiều người từ việc đứng tên hộ lại muốn mình trở thành chủ sở hữu thật sự của mảnh đất đó nên đã xảy ra tranh chấp. 


Pháp luật chỉ quy định không cho phép Việt Kiều giao dịch nhưng lại không quy định nếu đất được đứng tên dùm thì giải quyết thế nào? Tình trặng này dẫn đến nhiều vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Ví dụ...


Nơi phát mại nơi công nhận sở hữu…


Năm 1997, ông Đ (Việt kiều Mỹ) muốn về nước đầu tư làm ăn và mua một căn nhà tại TP Hồ Chí Minh làm trụ sở nên nhờ ông T đứng tên giùm. Bốn năm sau, biết ông T đang rao bán nhà, ông Đ vội về nước yêu cầu ông T trả nhà. Tuy nhiên ông T không chịu bảo đây là nhà của mình, chỉ mượn tiền ông Đ để mua…


Đầu năm 2004, xử sơ thẩm, TAND TP Hồ Chí Minh nhận định có cơ sở cho thất ông Đ đã gửi tiền về mua nhà, ông T là người đứng tên giùm. Tuy nhiên tại thời điểm đó, luật không cho phép Việt kiều mua nhà nên giao dịch này bất hợp pháp. Vì thế ông Đ chỉ được nhận lại tiền gửi mua nhà. Tòa tuyên phát mại nhà, phần chênh lệch giá giữa lúc mua và bán lúc xét xử sẽ xung quỹ nhà nước. Phía ông T có công xây dựng, bảo quản được hưởng 0,5% trong số tiền chênh lệc giá sung công.


Đến phiên phúc thẩm, TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh lại cho rằng ông Đ đã đầu tư làm ăn tại Việt nam theo quy định của pháp luật. Chính sách hiện nay là cho phép những Việt kiều như ông Đ được mua nhà trong nước nên việc phát mại nhà là không cần thiết. Tòa đã công nhận cho ông Đ được quyền sở hữu nhà.


Nhiều quan điểm xét xử, vì sao?


Một thẩm phán Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh thừa nhận khi xử các vụ án liên quan đến tranh chấp dạng này thì hầu như cách xử nào cũng đúng (?!). Bởi trước đây, luật chỉ quy định không cho Việt kiều giao dịch nhưng đến nay chưa có một hướng dẫn cụ thể nào nếu nhà đứng tên giùm thì xử lý sao, công nhận sở hữu hay không…Do vậy, không ít trường hợp có sự tréo ngoe trong việc giải quyết án. Có thẩm phán xử thế này, có thẩm phán lại xử khác…


Luật sư Phùng Thị Hòa (Đoàn Luật sư TPHCM) cho biết thêm, cái khó cũng là do sự “nửa vời” của pháp luật. Khi xét xử nhiều thẩm phán nhập nhằng trong việc xác định thời điểm giao dịch , dẫn đến tình trạng muốn công nhận sở hữu cũng được, không công nhận cũng xong. Nhiều trường hợp không công nhận quyền sở hữu vì thẩm phán xách định tại thời điểm giao dịch thì giao dịc đó không hợp pháp. Tuy nhiên, có thẩm phán lại nhận định đến thời điểm tranh chấp , Việt kiều đã hồi hương hay là nhà đầu tư… theo luật thì đượcmua nhà tại Việt Nam nên vẫn được công nhận quyền sở hữu…


Để có hướng giải quyết thống nhất vấn đề trên, ngày 6/4/2016, Hội đồng thẩm phán toàn án nhân dân tối cao đã thông qua án lệ số 02/2016/AL về một vụ kiện giữa một Việt kiều kiện đòi số tiền có được từ người đứng tên hộ khi người này bán mảnh đất được nhờ đứng tên. Qua quá trình giải quyết vụ kiện. Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân tối cao đã đưa ra nội dung định hướng cho công tác xét cử về sau, như sau:


“Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển nhượng đất (tương đương khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).”

Án lệ số 02/2016/AL

Vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Án lệ số 02/2016/AL

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 27/2010/DS-GĐT ngày 08-7-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” tại tỉnh Sóc Trăng giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thảnh với bị đơn là ông Nguyễn Văn Tám; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Yêm.

Khái quát nội dung của án lệ:

Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người ở trong nước đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ mình, khi giải quyết tranh chấp thì Tòa án phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ; trường hợp không xác định được chính xác công sức của người đó thì cần xác định người thực chất trả tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Điều 137 và Điều 235 của BLDS

Từ khóa của án lệ:

“Giao dịch dân sự vô hiệu”; “Đòi lại tài sản”; “Căn cứ xác lập quyền sở hữu”; “Xác lập quyền sở hữu đối với lợi tức”; “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24-01-2005, tờ khai ngày 07-02-2005 và quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Thảnh là nguyên đơn trình bày:

Bà Thảnh là Việt kiều ở Hà Lan về thăm thân nhân tại Việt Nam và có ý định chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên ngày 10-8-1993, bà có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hêng Tính, bà Lý Thị Sà Quênh diện tích 7.595,7m2 đất ruộng tại Phường 7, thị xã Sóc Trăng với giá 21,99 chỉ vàng. Bà là người trực tiếp giao dịch, thỏa thuận việc chuyển nhượng và trả tiền, vàng cho vợ chồng ông Hêng Tính. Mục đích của bà Thảnh là chuyển nhượng đất để giao cho em ruột của bà là ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị Chính Em canh tác nuôi cha mẹ của bà và ông Tám. Do bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên bà để cho ông Tám đứng tên trong giấy tờ sang nhượng. Đồng thời, bà Thảnh xuất trình “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993 có xác nhận của UBND xã An Hiệp. Sau khi nhận chuyển nhượng bà để cho vợ chồng ông Tám canh tác, nhưng năm 2004, không được bà đồng ý, ông Tám đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích 7.595,7m2 đất trên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu với giá trị quyền sử dụng đất là 1.260.000.000 đồng. Vì vậy, bà yêu cầu ông Tám trả lại số tiền thu được từ việc chuyển nhượng đất của bà.

Ông Nguyễn Văn Tám là bị đơn trình bày:

Diện tích 7.595,7m2 đất mà bà Thảnh tranh chấp là đất do vợ chồng ông là người bỏ tiền, vàng ra sang nhượng lại của vợ chồng ông Hêng Tính, ông là người đứng tên trong “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993. Tờ sang nhượng này không có xác nhận của chính quyền địa phương. Nhưng sau đó, ông và vợ chồng ông Hêng Tính còn ký bản hợp đồng và đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 11-8-1993, các văn bản này có xác nhận của UBND xã An Hiệp và của UBND huyện Mỹ Tú đồng ý cho chuyển nhượng. Sau khi chuyển nhượng ông đã đăng ký, kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 28-5-1994. Do đó, năm 2004, ông chuyển nhượng toàn bộ đất trên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu với giá trị là 1.260.000.000 đồng. Ông cho rằng “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã An Hiệp do bà Thảnh xuất trình là giả vì theo Bản kết luận giám định số 2784/C21 (P7) ngày 25-10-2005 của Viện Khoa học Hình sự Tổng cục cảnh sát thì không phải chữ ký của ông trong tờ sang nhượng đất ruộng do bà Thảnh xuất trình. Vì vậy, ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Thảnh.

Bà Nguyễn Thị Yêm (vợ của ông Tám) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Năm 1993 vợ chồng bà có chuyển nhượng đất của ông Hêng Tính. Khi làm thủ tục chuyển nhượng bà không tham gia nhưng bà có đưa tiền, vàng cho ông Tám trả cho vợ chồng ông Hêng Tính nên bà cũng không chấp nhận theo yêu cầu của bà Thảnh.

Vợ chồng ông Hêng Tính, bà Lý Thị Sà Quênh (tên gọi khác là Lý Thị Sà Vênh) là người chuyển nhượng đất đều khẳng định bà Thảnh trực tiếp thoả thuận chuyển nhượng, trực tiếp trả 21,99 chỉ vàng cho ông, bà và bà Thảnh để cho ông Tám đứng tên giùm trong tờ sang nhượng đất ruộng lập ngày 10-8-1993; chữ ký trong tờ sang nhượng đất ruộng do bà Thảnh xuất trình đúng là chữ ký của ông, bà.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thảnh về việc đòi lại tiền chuyển nhượng đất.

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Tám, bà Nguyễn Thị Yêm phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thảnh 630.000.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí giám định và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 10-5-2006, ông Nguyễn Văn Tám kháng cáo cho rằng bà Thảnh không phải là người có quyền sử dụng phần đất mà ông đã chuyển nhượng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông thanh toán cho bà Thảnh 630.000.000 đồng là không đúng.

Ngày 12-5-2006, ông Nguyễn Hữu Phòng (đại diện cho bà Thảnh) kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử buộc ông Tám trả lại toàn bộ số tiền mà ông Tám đã chuyển nhượng đất là 1.260.000.000 đồng cho bà Thảnh.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DS-PT ngày 25-8-2006, Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm như sau:

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thảnh về việc đòi lại tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Buộc ông Nguyễn Văn Tám, bà Nguyễn Thị Yêm có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thảnh số tiền 27.047.700 đồng tương đương 21,99 chỉ vàng 24k.

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị Yêm phải nộp lại số tiền 1.232.266.860 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.         

Sau xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Tám khiếu nại Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 449/2009/KN-DS ngày 21-8-2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DS-PT

ngày 25-8-2006 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án phúc thẩm nêu trên và huỷ Bản án dân sự sơ thẩm

số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật, với nhận định:

“Bà Nguyễn Thị Thảnh khởi kiện đòi lại tài sản đối với ông Nguyễn Văn Tám và cho rằng do bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên bà có nhờ ông Tám (em của bà) đứng tên nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hêng Tính giùm cho bà nhưng sau đó ông Tám đã chuyển nhượng đất của bà cho người khác.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông Tám chỉ đứng tên nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hêng Tính giùm cho bà Thảnh là có căn cứ.

Do bà Thảnh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nên bà Thảnh không được giao đất mà chỉ được trả lại phần giá trị đầu tư tiền chuyển nhượng đất.

Đối với chênh lệch giá trị đất, thời điểm xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm là thời điểm thi hành Bộ luật dân sự năm 2005, không có quy định buộc phải tịch thu sung công quỹ nên khoản chênh lệch này bà Thảnh và ông Tám cùng được hưởng. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc ông Tám nộp số tiền chênh lệch giá trị đất để sung công là có căn cứ nhưng không buộc ông Tám trả cho bà Thảnh giá trị đầu tư ban đầu là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm không đưa ra được căn cứ pháp luật nhưng đã buộc ông Tám nộp toàn bộ số tiền chênh lệch (1.232.226.860 đồng) để sung công quỹ Nhà nước là không đúng quy định của pháp luật”.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao huỷ Bản án phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Bà Nguyễn Thị Thảnh khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Tám trả lại cho bà 1.260.000.000 đồng vì cho rằng bà là người trực tiếp giao dịch, trả tiền nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hêng Tính 7.595,7m2 đất, nhưng vì bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên nhờ ông Tám (em của bà) đứng tên, nhưng không được bà đồng ý ông Tám đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho Công ty TNHH Minh Châu để nhận 1.260.000.000 đồng.

Ông Tám cho rằng ông là người thoả thuận chuyển nhượng đất và trả tiền cho ông Hêng Tính, nên giấy tờ chuyển nhượng đất ông đứng tên. Sau khi nhận chuyển nhượng ông trực tiếp quản lý sử dụng, đăng ký kê khai, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi ông chuyển nhượng cho Công ty TNHH Minh Châu được chính quyền cho phép, nên ông không chấp nhận yêu cầu của bà Thảnh.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án vợ chồng ông Tám có nhiều lời khai mâu thuẫn về số tiền, vàng đã trả cho ông Hêng Tính và ông cũng không chứng minh được nguồn gốc nguồn tiền vàng mà ông cho rằng đã trả cho ông Tính.

Trong khi đó vợ chồng ông Tính, bà Quênh khẳng định chỉ thỏa thuận chuyển nhượng đất và nhận vàng của bà Thảnh còn việc viết giấy chuyển nhượng đất đứng tên ông Tám là theo yêu cầu của bà Thảnh, vì bà Thảnh đang định cư ở nước ngoài.

Theo lời khai của cụ Thái Thị Ba, ông Nguyễn Phước Hoàng, bà Nguyễn Thị Chính Em (là mẹ và anh chị em ruột của bà Thảnh, ông Tám) thì bà Thảnh giao dịch, trả tiền chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Tính, còn ông Tám chỉ là người đứng tên giùm.

Tổng hợp các chứng cứ nêu trên có cơ sở khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Thảnh là người bỏ toàn bộ số tiền là 21,99 chỉ vàng để nhận chuyển nhượng diện tích trên, còn ông Tám chỉ là người đứng tên giùm. Do ông Tám đã chuyển nhượng đất trên cho Công ty TNHH Minh Châu và bà Thảnh chỉ yêu cầu ông Tám trả lại số tiền đã chuyển nhượng là 1.260.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển nhượng đất (tương đương khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).

Tòa án cấp sơ thẩm công nhận bà Thảnh, ông Tám mỗi người có quyền sở hữu 1/2 số tiền trên nhưng không trích trả cho bà Thảnh số tiền tương ứng với 21,99 chỉ vàng là không đúng.

Tòa án cấp phúc thẩm chỉ công nhận bà Thảnh có quyền sở hữu số tiền tương ứng với 21,99 chỉ vàng, còn lợi nhuận là số tiền còn lại tịch thu sung công quỹ nhà nước là không đúng với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, không đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

Ngoài ra, bà Thảnh khởi kiện yêu cầu ông Tám trả cho bà 1.260.000.000 đồng là số tiền ông Tám chuyển nhượng giá trị quyền sử dụng 7.595,7m2 đất, mà không tranh chấp quyền sử dụng đất, còn ông Tám cho rằng số tiền trên là của ông. Như vậy, các đương sự tranh chấp quyền sở hữu tài sản là số tiền nêu trên. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi lại tài sản” là không chính xác.

Bởi các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 297 và Điều 299 BLDS

QUYẾT ĐỊNH

            1- Huỷ Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DSPT ngày 25-8-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về vụ án tranh chấp đòi lại tài sản giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thảnh với bị đơn là ông Nguyễn Văn Tám; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Yêm.

            2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển nhượng đất (tương đương khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).”


Tư Vấn Cách Đòi Lại Đất Đứng Tên Dùm
Tư Vấn Cách Đòi Lại Đất Đứng Tên Dùm

Theo quy định của Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sụ thì:

Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

"1. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự".

Như vậy, khi bác bạn gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân huyện thì bác bạn phải có những căn cứ chứng minh ban đầu về quyền khởi kiện của mình. Cụ thể, bác bạn phải chứng minh mình có quyền gì trong lô đất nhà bạn hay không?

Theo như tình huống bạn đã trao đổi thì bố mẹ bạn đã sử dụng đất ổn định từ năm 1991 đến nay, có đóng thuế đầy đủ vàTháng 9 năm 2013 UBND huyện đã cấp sổ bìa hồng mang tên của bố mẹ bạn. Như vậy, bố mẹ bạn hoàn toàn có quyền sử dụng đối với mảnh đất đó, bác bạn không có quyền đòi lại mảnh đất.

Về hoạt động của tòa án, đối với việc nhận đơn khởi kiện tai Điều 167 Bộ luật dân sự có quy định:

Điều 167. Thủ tục nhận đơn khởi kiện

"Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải Xem Xét và có một trong các quyết định sau đây:

1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2. Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án".

Đáng ra khi tòa án tiến hành thủ tục thụ lý vụ án, khi nhận thấy bác bạn không có quyền khởi kiện thì tòa án phải trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng trong trường hợp này, tòa án đã thụ lý vụ án và triệu tập bố mẹ bạn".

Thứ hai, bạn phải làm gì để bảo vệ gia đình bạn?

Theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự, về nguyên tắc, khi được tòa án triệu tâp thì bố mẹ bạn phải có mặt. Tuy nhiên, vì điều kiện khách quan nên bố mẹ bạn không thể đến được. Vì vậy, bố mẹ bạn có thể viết giấy ủy quyền đểbạn có thể trở thành đại diện theo ủy quyền cho bố mẹ bạn để tham gia phiên triệu tập của tòa án. Khia tham gia phiên triệu tập, Tòa án sẽ tiến hành những thủ tục nhất định để đưa vụ án ra xét xử, do đó việc có mặt của bạn là vô cùng cần thiết. Trong phiên triệu tập, bạn có thể cung cấp những chứng cứ chứng minh quyền của bố mẹ bạn đối với mảnh đất và đưa ra những lý lẽ chứng minh bác bạn không có quyền gì đối với mảnh đất đó.Bạn cũng có thể thuê luật sư để họ giúp đỡ bạn về mặt pháp lý.

Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu bạn sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. Chúng tôi là luật sư sẽ hội đủ những điều kiện trên và tiêu chí của chúng tôi luôn cố gắng để hoàn thiện đầy đủ những yếu tố trên. Chúng tôi quán triệt các luật sư trong văn phòng cũng như công tác viên, cộng sự, nhân viên đều phải rèn luyện đạo đức và tài năng để hoạt động đúng tiêu chí mà chúng tôi quan niệm theo đuổi trong suốt quá trình hành nghề.

Chúng tôi là Văn phòng Luật sư Gia Đình - Đoàn Luật sư TP.HCM tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

         Tên Luật sư Gia Đình không có nghĩa là chúng tôi chỉ chuyên về gia đình mà tên Luật sư Gia Đình là do Văn phòng luật sư chúng tôi bao gồm các luật sư xuất thân từ trong các gia đình yêu và đam mê nghề luật nên ý tưởng manh nha của các luật sư sáng lập đặt tên là Văn phòng luật sư Gia Đình.

          Với hàng chục nghìn khách hàng được tư vấn về pháp luật tại Luật Sư Gia Đình, chúng tôi là một trong những luật sư tiên phong trong việc giúp các cá nhân, doanh nhân đạt được kết quả tốt nhất và khởi sự kinh doanh nhanh chóng và thuận lợi. Luật sư Gia Đình- "Hãng luật uy tín của bạn" là khẩu hiệu mà Luật sư Gia Đình chọn làm phương châm xuyên suốt trong mọi hoạt động hành nghề. Mỗi khách hàng đối với chúng tôi là một người bạn, một vinh dự quý báu và đáng trân trọng nên chúng tôi có nghĩa vụ phục vụ tốt nhất cho khách hàng. Mỗi hoạt động mà Văn phòng Luật sư Gia Đình dành cho khách hàng của mình cũng là để góp phần gìn giữ và xây dựng những danh hiệu quý báu ấy và bảo đảm được mong muốn, quyền lợi của khách hàng góp phần bảo vệ công lý nói chung. Luật sư Gia Đình luôn coi trọng chữ “Tâm” và “Đức” của nghề luật sư, chữ "tâm" là cốt lõi của nghề luật sư và mục tiêu chúng tôi hướng tới nhằm góp phần cho sự bảo vệ công lý và công bằng xã hội. Chúng tôi luôn đặt lợi ích và quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu. Luật sư Gia Đình là một trong những luật sư uy tín tại Việt Nam và là đối tác đáng tin cậy của nhiều doanh nghiệp, cá nhân và gia đình trong và ngoài nước. Tại đây tập trung các Luật sư có đạo đức và luật sư chuyên nghiệp trong chuyên môn cũng như trong cách giải quyết công việc, hồ sơ cho khách hàng hiệu quả. Với 12 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý và công tác tại nhiều thành phố khác nhau cùng với kinh nghiệm, học hỏi nhiều luật sư, bạn bè đang làm việc tại nhiều thành phố trên thế giới…Hãng luật Gia Đình hội đủ những phẩm chất, kỷ năng, kinh nghiệm về chuyên môn và đạo đức đủ khả năng giải quyết và tranh tụng những vụ việc,các tranh chấp  phức tạp và khó xảy ra tại các thành phố lớn ở Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi luôn làm việc với các cơ quan như Tòa án, Viện kiểm sát, Công an Điều tra, Sở tư pháp, Sở kế hoạch đầu tư, Cơ quan thi hành, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các luật sư đồng nghiệp…nhằm đạt được công việc hiệu quả và nhanh chóng cho khách hàng...

        Luật sư Trần Minh Hùng là một trong những luật sư sáng lập văn phòng luật, giàu kinh nghiệm về kiến thức và thực tiễn đã dành nhiều thắng lợi vụ kiện và quan trọng luật sư Hùng luôn coi trọng chữ TÂM của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, Đài tiếng nói Việt nam phỏng vấn nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống. Luật sư Trần Minh Hùng được nhiều hãng truyền thông, báo chí trong nước  tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn trên VOV Giao Thông – Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài truyền hình TP.HCM (HTV), Đài truyền hình Vĩnh Long... Báo pháp luật TP.HCM, Báo đời sống và pháp luật, báo Đời sống và tuổi trẻ,báo Dân Trí, Báo VNxpress, Báo Soha, Kênh 14, Một thế giới, Báo tin tức Việt nam– Các tạp chí như Tiếp Thị Gia Đình, Báo điện tử, báo Infonet,  VTC NEW, Báo Mới, Báo gia đình Việt nam, Báo ngày nay, Báo người lao động, Báo Công an nhân dân, Kiến thức ngày nay, Báo Gia đình và xã hội, Tầm nhìn, được các tổ chức, trường Đại học Luật TP.HCM mời làm giám khảo các cuộc thi Phiên tòa giả định, mời làm chuyên gia ý kiến về các sự kiện……là đối tác tư vấn luật của các hãng truyền thông này và luôn mang lại niềm tin cho khách hàng và ghi nhận sự đóng góp của chúng tôi cho xã hội...

Là văn phòng luật chuyên tư vấn luật trên báo chí các sự kiện nổi bật, nóng hổi trên cả nước nhằm tuyên truyền pháp luật cho mọi người và thể hiện được sự uy tín, kinh nghiệm kiến thức và thực tiễn của chúng tôi.

           Ngoài lĩnh vực hoạt động, Văn phòng Luật sư Gia Đình còn tham gia nhiều hoạt động từ thiện, tư vấn pháp luật miễn phí cho đối tượng chính sách, người nghèo, bào chữa, bảo vệ miễn phí cho nhiều đối tượng... Khách hàng đến với Văn phòng luật sư Gia Đình luôn nhận được sự quan tâm, chia sẻ sâu sắc về mọi mặt trong đời sống của các Luật sư Gia Đình.

            Văn Phòng Luật sư Gia Đình xin gửi lời chúc sức khoẻ và cảm lời cảm ơn sâu sắc đến với tất cả Quý khách hàng đã và đang hợp tác với chúng tôi trong thời gian qua. Chúng tôi tin rằng khi đến với Luật sư Gia Đình quý khách sẽ nhận được được những dịch vụ pháp lý hoàn hảo và đáng tin cậy, sự tận tâm, tận tình của chúng tôi. Với đội ngũ Luật sư và các chuyên gia dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của chúng tôi. Yếu tố quyết định cho sự thành công bền vững của Luật sư Gia Đình chính là sự chuyên nghiệp, uy tín, trung thực đối với khách hàng và không ngừng học hỏi, nâng cao chuyên môn và đạo đức của Luật sư trong nước và Luật sư thế giới thể hiện trong việc phân công đội ngũ nhân sự phù hợp, phát huy tốt nhất nhân tố con người.

Là văn phòng luật chuyên tư vấn luật trên báo chí các sự kiện nổi bật, nóng hổi trên cả nước nhằm tuyên truyền pháp luật cho mọi người và thể hiện được sự uy tín, kinh nghiệm kiến thức và thực tiễn của chúng tôi.

Chúng tôi chuyên tư vấn và thực hiện dịch vụ tại các tỉnh khắp trên cả nước như tư vấn tại Bình Dương, TP.HCM, đồng nai, Long An, Vũng Tàu, Hà Nội, Nha Trang, biên hòa, Đà Nẵng, Vinh… 

Đại diện Văn phòng Luật sư Gia Đình

                                                                                                                                                      

 Luật sư Trần Minh Hùng  

Giải Quyết Tranh Chấp Nhà Đất Tại Tphcm
Giải Quyết Tranh Chấp Nhà Đất Tại Tphcm
TƯ VẤN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHÀ ĐẤT

1. Hòa giải cơ sở:


Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất đang tranh chấp (Lưu ý việc hòa giải không bắt buộc chỉ là khuyến khích)

2. Khởi kiện tại Tòa án:


+ Nếu tranh chấp không có yếu tố nước ngoài thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp quện, huyện, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh.
+ Nếu tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

3. Hồ sơ tài liệu cung cấp cho Tòa án khi yêu cầu giải quyết tranh chấp


-Đơn khởi kiện theo mẫu
-Tài liệu chứng cứ liên quan đến quyền sử dụng đất và tranh chấp phát sinh
- Chứng minh thư, hộ khẩu của bên khởi kiện
- Văn bản xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nơi thường trú (tạm trú) của người bị kiện.


4. Trình tự thủ tục giải quyết

- Người khởi kiện nộp đơn yêu cầu giải quyết tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu qua thủ tục hòa giải mà một trong các bên không đồng ý với nội dung hòa giải thì có quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp mà không thông qua trình tự thủ tục hòa giải.
- Sau khi nhận đơn khởi kiện hợp lệ, tài liệu chứng cứ kèm theo mà vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện để nộp tạm ứng án phí (nếu không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tạm ứng án phí)
- Sau khi nhận được biên lai nộp tạm ứng án phí thì Tòa án tuến hành thụ lý vụ án và giải quyết.
- Thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật thì thời hạn tối đa là 8 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Luật sư Gia Đình đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hỗ trợ luật sư là đối tác tư vấn pháp luật trên Đài tiếng nói Bình Dương, Đài truyền hình Bình Dương, Đài Đài Truyền hình HTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài VOV Giao Thông, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Văn Bản Cam Kết Đứng Tên Dùm Nhà Đất
Văn Bản Cam Kết Đứng Tên Dùm Nhà Đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

 

VĂN BẢN THỎA THUẬN NHỜ ĐỨNG TÊN DÙM QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

 

Hôm nay, ngày… tháng… năm 2018, chúng tôi ký tên dưới đây gồm:

 

Bên A: Bên Chủ đất

Họ và tên: Nguyễn Minh Dũng, sinh năm : 1952

CMND số: 023669660 cấp tại TPHCM

Thường trú tại:  195 Tân Hòa Đông, P.14, Quận 6, TPHCM

 

BÊN B: Bên đứng tên dùm

Họ và tên: Nguyễn Việt Thắng, sinh năm:  ……

CMND số: ………………    cấp ngày:  …………. Nơi cấp: ………

Thường trú tại: ấp Bãi Thơm, xã Bãi Thơm, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.,

Căn cứ tình hình thực tế, chúng tôi lập văn bản này để xác nhận và cam kết những nội dung sau:

 

Điều 1:

Nguồn gốc quyền sử dụng đất tại địa chỉ:ấp Bãi Thơm, xã Bãi Thơm, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, diện tích khoảng: 103.500m2 (một trăm lẽ ba nghìn năm trăm mét vuông) thửa đất số:...................., tờ bản đồ số:........................theo giấy tờ bên A mua ngày............................................................ của ông/bà:...............................................................................................

Nay bên A nhờ bên B đứng tên xin hợp thức hóa đứng tên bên B thay cho bên A trên giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nêu trên.

Như vậy, bên B chỉ đứng tên dùm cho bên A trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Bên B không có bất kỳ quyền lợi nghĩa vụ hay đóng góp nào đối với thửa đất nêu trên. Khi nào bên A yêu cầu bán hay sang lại tên cho bên A thì bên B phải ngày lập tức làm theo yêu cầu của bên A. Bên B không có được quyền khiếu nại, khởi kiện gì đối với thửa đất nêu trên vì bên B xác nhận và cam kết rằng thửa đất nêu trên là của bên A, bên B chỉ đứng tên dùm.

Điều 2: Cam kết của bên B.

-         Cam Kết Bên B

Bên B nhận thức rằng đứng tên dùm tài sản của bên A là góp phần gìn giữ, bảo vệ tài sản của bên A, do vậy bên B cam kết rằng:

a)     Khi Bên A có yêu cầu sang tên đối với Quyền sử dụng đất nêu trên cho bên A Thì bên B sẽ thực hiện ngay việc sang tên Quyền sử dụng đất được nêu ở Điều 1 cho Bên A theo quy định pháp luật  mà không đòi hỏi bất kỳ một điều kiện nào. Mọi chi phí sang tên do A chi trả.

b)     Trong trường hợp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản nhà ở nêu trên đất chưa được sang tên cho Bên A mà mà Bên B chết thì người thừa kế Quyền sử dụng đất trên vẫn là Bên A. Những người thuộc các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật của Bên B có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết để bảo đảm quyền tài sản của Bên A đối với thửa đất nêu trên và sang tên cho bên A.

c)     Bên A có quyền trưng dụng quyền sử dụng đất trên để ở hoặc bán cho mục đích riêng của mình nhưng không được chứa chất cấm, chất cháy nổ, che giấu tội phạm hoặc bất kỳ hành vi phạm tội nào khác mà pháp luật Việt Nam cấm.

d)     Bên B cam kết hỗ trợ bên A trong việc cho thuê, bán hoặc chuyển nhượng, đăng ký sang tên theo yêu cầu bên A cho các bên liên quan, nhưng bên B không được tự ý bán đất trên khi bên A chưa đồng ý.

-         Cam kết bên A:

a)     Tiền mua đất là tiền hợp pháp của bên A, đất trên là đất của bên A, Bên A chỉ nhờ bên B đứng tên dùm. Khi nào bên A yêu cầu bên B trả lại hay chuyển nhượng lại cho bên A hoặc sang tên cho bên thứ 3 thì bên B phải làm theo yêu cầu bên A mà không đòi hỏi bất kỳ khoản phí chuyển nhượng hay bất kỳ phí nào khác.

b)     Bên A hữa sẽ cho bên B diện tích: 5000m2 (năm nghìn m2) trong phần diện tích đất trên, tùy bên B định đoạt, ranh giới sẽ đo vẽ cụ thể khi bên B yêu cầu.

Điều 3: Thỏa thuận chung

-         Bên A và bên B cam kết thực hiện đúng và đầy đủ tất cả những nội dung đã ghi trong văn bản này.

-         Chúng tôi đã hiểu rõ nội dung văn bản, tự nguyện ký (điểm chỉ) vào văn bản này.

-         Văn bản thỏa thuận này được lập thành …. bản chính. Mỗi bản có giá trị pháp lý như nhau.

           BÊN A                                                                      BÊN B

(ký và ghi rõ họ tên)                                                  (ký và ghi rõ họ tên)   

Luật Sư Tư Vấn Kiện Đòi Nhà
Luật Sư Tư Vấn Kiện Đòi Nhà
Theo quy định tại Luật sửa đổi bổ sung điều 126 của Luật nhà ở và điều 121 của Luật đất đai 2003  năm 2009 quy định:
Điều 126 của Luật nhà ở được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 126. Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (việt kiều)
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:
a) Người có quốc tịch Việt Nam;
b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.”
Như vậy, Người Việt Nam có nguồn gốc Việt Nam nhưng đã mất quốc tịch Việt Nam nhưng được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ 03 tháng trở lên thì được quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc 01 căn hộ chung cư tại Việt Nam.
Do căn nhà này đang có sự tranh chấp giữa bạn và em trai, bạn có đầy đủ chứng cứ chứng minh căn nhà này do bạn mua lại hợp pháp từ cha mẹ bạn thì có quyền khởi kiện ra Tòa án để đòi lại nhà ở tại Việt Nam, vì bạn là Việt Kiều nên Tòa án nhân dân cấp Tỉnh nơi có đất sẽ có thẩm quyền thụ lý và giải quyết. Căn cứ vào quyết định của Tòa án mà Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cấp Giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở và các tài sản gắn liền với đất cho bạn hay không.

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Luật sư Gia Đình đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hỗ trợ luật sư là đối tác tư vấn pháp luật trên Đài tiếng nói Bình Dương, Đài truyền hình Bình Dương, Đài HTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.


ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006


12»

Hỗ trợ trực tuyến

ĐIỆN THOẠI HẸN GẶP
 LUẬT SƯ TƯ VẤN:
 0972238006 - 
028.38779958
Hỗ trợ trực tuyến:
Yahoo: Yahoo
Skype: Skype
0972238006
Hợp Đồng Tặng Cho Tài Sản Nhà Đất
luật sư tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp
luat su rieng cho cong ty
luật sư doanh nghiệp
luat su nha dat
luật sư doanh nghiệp
luật sư trả lời đài truyền hình
luật sư trả lời báo chí
Trang chủ | Luật sư chuyên giải quyết thuận tình ly hôn tại tphcm | Luật sư chuyên đại diện ủy quyền ly hôn | Luật sư chuyên soạn thảo các loại hợp đồng | Luật sư ly hôn tại Tân Bình, Gò Vấp | Luật sư chuyên đại diện cho doanh nghiệp tại tòa án | Văn phòng luật sư tư vấn | Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất với người nước ngoài | Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất cho việt kiều tại sài gòn | Luật sư chuyên khởi kiện tranh chấp thừa kế | Luật sư chuyên khởi kiện thu hồi nợ | Luật sư chuyên làm giấy tờ nhà đất tại tphcm | Luật sư giỏi tại thành phố hồ chí minh | Dịch vụ sang tên sổ đỏ sổ hồng | Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng | Tư vấn người nước ngoài ly hôn với người việt nam | Luật sư giỏi về thừa kế tại tphcm | Luật sư tư vấn luật đất đai | Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại trong vụ án hình sự | Luật sư chuyên tư vấn chia tài sản sau khi ly hôn | Luật sư pháp chế doanh nghiệp | Phí thuê luật sư ly hôn tại tphcm | Tư vấn thủ tục nhận thừa kế nhà đất | Luật sư cho việt kiều và người nước ngoài | Luật sư giỏi chuyên tố tụng | Luật sư cho công ty tại quận 6, bình tân | Luật sư cho công ty tại quận 5, quận 11, quận 10 | Luật sư tư vấn kiện đòi nhà cho thuê | Luật sư chuyên nhà đất quận 9, quận 12 | Luật sư tư vấn thu hồi công nợ | Tranh Chấp Dân Sự Có Yếu Tố Nước Ngoài | Luật Sư Làm Ly Hôn Nhanh Tại Tphcm | Tư Vấn Kiện Đòi Lại Nhà Cho Ở Nhờ | Luật sư tư vấn kiện đòi nhà | Luật sư tư vấn mua bán nhà đất | Luật sư tư vấn hợp đồng vô hiệu | Tư vấn hợp đồng giả cách | Luật Sư Hòa Giải Tranh Chấp Đất Đai | Tư Vấn Tranh Chấp Ly Hôn | Luật Sư Chuyên Ly Hôn Nhanh Trọn Gói | Tư Vấn Chuyển Nhượng Cổ Phần Vốn Góp | Luật Sư Bảo Hộ Doanh Nghiệp | Luật Sư Giải Quyết Ly Hôn Nhanh Tại Tphcm | Tư Vấn Kiện Đòi Nợ | Luật Sư Tranh Chấp Nhà Ở | Luật Sư Chuyên Soạn Đơn Khởi Kiện/Khiếu Nại | Luật sư tư vấn soạn đơn ly hôn | Luật Sư Tư Vấn Thành Lập Doanh Nghiệp | Luật Sư Tư Vấn Tại Công Ty | Luật Sư Chuyên Nhà Đất Tại Quận 6, Bình Tân, Bình Chánh | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Nuôi Con Khi Ly Hôn | Luật Sư Tư Vấn Cho Người Hoa Tại tphcm/Hoa Kiều | Luật Sư tư Vấn Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động | Luật Sư Tư Vấn Cho Việt Kiều Úc, Mỹ, Canada | Luật Sư Tư Vấn Luật Thường Xuyên Cho Doanh Nghiệp | Công Chứng Khai Nhận Thừa Kế | Văn Phòng Luật Sư Tư Vấn Chia Tài Sản Khi Ly Hôn | Luật Sư Tư Vấn Bất Động Sản | Luật Sư Tranh Chấp Thừa Kế Tại Quận 6 | Luật Sư Tranh Chấp Kinh Doanh Thương Mại | Luật Sư Chuyên Đại Diện Ủy Quyền Tại Tòa Án | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Tân | Luật Sư Ly Hôn Tại Quận 6 | Luật Sư Chuyên Ly Hôn Tại Bình Thạnh, Gò Vấp | Luật Sư Hình Sự Tại Biên Hòa | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Quận 10, Quận 11 | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Cố Phần Vốn Góp | Luật Sư Bảo Vệ Bào Chữa Tại Trung Tâm Trọng Tài | luật sư trả lời phỏng vấn báo chí truyền thông | Luật Sư Quận Tân Phú | Luật Sư Quận Phú Nhuận | Luật Sư Quận Gò Vấp | Dịch Vụ Hợp Thức Hóa Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất Cho Việt Kiều | Luật Sư Tư Vấn Cho Công Ty | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Chánh | Luật Sư Chuyên Khởi Kiện Án Hành Chính | Luật Sư Tư Vấn Lấn Chiếm Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Chuyển Nhượng Đất | Tư Vấn Cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Phân Chia Thừa Kế | Luật Sư Tư Vấn Cho Công Ty Bất Động Sản | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Đất Đai Tại Bình Chánh | Luật Sư Bào Chữa Hình Sự | Luật Sư Tư Vấn Ngoài Giờ | Tranh Chấp Thừa Kế Có Yếu Tố Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Đòi Lại Tài Sản | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Đứng Tên Dùm Nhà Đất | Luật sư chuyên tư vấn doanh nghiệp | Luật sư giỏi về hình sự tại thành phố hồ chí minh | Luật sư giỏi về nhà đất tại tphcm | Luật sư giỏi di chúc thừa kế tại tphcm | Luật sư chuyên tranh chấp nhà chung cư | Luật sư giỏi về hình sự tại sài gòn | Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng góp vốn | Luật sư chuyên thừa kế di chúc | tư vấn công chứng mua bán nhà đất | luật sư tư vấn thành lập công ty | luật sư chuyên tư vấn ly hôn chia tài sản | dịch vụ luật sư di sản thừa kế | Dịch vụ luật sư nhà đất tại TPHCM | luật sư quận 1 | luật sư quận 2 | luật sư quận 3 | luật sư quận 4 | luật sư quận 5 | Luật Sư Tại Quận 6 | luật sư quận 7 | luật sư quận 8 | luật sư quận 9 | Luật sư quận 10 | Luật sư quận 11 | luật sư quận 12 | Luật sư quận bình thạnh | Luật sư huyện bình chánh | Luật sư huyện Nhà Bè | luật sư huyện hóc môn | Văn phòng Luật sư Nhà Đất | Luật sư huyện Cần Giờ | Văn phòng luật sư tại TPHCM | Luật Sư Tại Sài Gòn | luật sư việt nam | Luật sư Uy Tín | Luật sư Công Ty | luật sư quận thủ đức | Luật sư chuyên tranh chấp thừa kế | luật sư bào chữa tại tòa án | luật sư quận bình tân | Dịch thuật công chứng tại tphcm | luật sư giỏi và uy tín | luật sư tư vấn tại nhà | luật sư tư vấn hợp đồng mua bán nhà đất | mẫu hợp đồng mua bán nhà | mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán nhà | luật sư chuyên hình sự | luật sư tư vấn thu hồi nợ | luật sư chuyên nhà đất | luật sư chuyên về khiếu nại, khởi kiện | luật sư giỏi về nhà đất | luật sư chuyên hợp đồng kinh tế | luật sư tư vấn hợp đồng mua bán hàng hóa | luật sư tư vấn tại bình dương | luật sư tại biên hòa đồng nai | Văn phòng luật sư tư vấn ly hôn | Luật Sư tư vấn tại Long An | Luật sư tư vấn tại cần thơ | Văn Phòng Luật Sư Chuyên Thừa Kế | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn | Luật Sư Làm Chứng | Tư Vấn Công Chứng Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Cho Người Nước Ngoài | Luật Sư Riêng Cho Công Ty | Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Về Thuế Kế Toán | Tư Vấn Công Chứng Tại Nhà | Luật Sư Thừa Kế Tại Tphcm | Tư Vấn Luật Cho Việt Kiều Mỹ | Luật Sư Tư Vấn Cho Việt Kiều Mua Nhà Tại Việt Nam | Luật Sư Tại Thành Phố Hồ Chí Minh | Luật Sư Tư Vấn Luật Lao Động | Luật Sư Riêng Cho Các Doanh Công Ty Tại Sài Gòn | Luật Sư Quận Tân Bình | Luật Sư Cho Doanh Nghiệp | luật sư riêng cho các công ty | luật sư tư vấn thừa kế nhà đất cho việt kiều | luật sư riêng cho công ty nước ngoài tại việt nam | Đoàn luật sư tphcm - VPLS Gia Đình | Tư vấn chia tài sản khi ly hôn | luật sư tư vấn tranh chấp tại toà án | ly hôn có yếu tố nước ngoài | luật sư bào chữa tại tòa án tphcm | luật sư bào chữa tại tòa án quận 1 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 2 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 3 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 4 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 5 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 6 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 7 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 8 | Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất quận 9, quận 2 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 10 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 11 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 12 | luật sư bào chữa tại tòa án tân bình | luật sư bào chữa tại tòa án bình chánh | luật sư bào chữa tại tòa án bình tân | luật sư bào chữa tại tòa án tân phú | luật sư bào chữa tại tòa án phú nhuận | luật sư bào chữa tại tòa án bình dương | luật sư bào chữa tại tòa án biên hòa đồng nai | Luật Sư Chuyên Về Di Chúc | luật sư bào chữa tại tòa án bình thạnh | Tư vấn du học xin visa | Luật sư tranh chấp nhà đất | Luật sư tư vấn di chúc | Luật sư tư vấn thương mại | luật sư tranh tụng tại tòa án | luật sư tư vấn hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất | luật sư chuyên tư vấn hợp đồng thuê nhà | Văn Phòng Luật Sư Chuyên Hình Sự Tại Tphcm | Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng | Luật sư tranh chấp bất động sản | Văn phòng luật sư doanh nghiệp | Luật Sư Bào Chữa Tại TPHCM | Luật sư tư vấn hợp đồng vay tiền | Thủ tục tuyên bố 1 người tâm thần | Luật sư tư vấn tranh chấp công ty | luật sư tư vấn thu hồi nợ | luật sư tư vấn thuận tình ly hôn | luật sư tư vấn đơn phương ly hôn | Luật sư tư vấn tranh chấp đất đai | Dịch vụ luật sư làm sổ hồng sổ đỏ | Luật Sư Tố Tụng | Dịch Vụ Luật Sư Ly Hôn Nhanh | Luật sư tư vấn ly hôn tại quận 5, quận 11 | Luật Sư Tư Vấn Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng | luật sư tư vấn thừa kế theo di chúc | Luật sư tư vấn phân chia thừa kế quận 6, quận 11, quận 10, quận 5 | Luật sư thừa kế tại quận 1, quận 2, quận 3, quận 4, quận 7 | Luật sư tư vấn phân chia thừa kế tại quận 8, quận 9, quận 12 | Luật sư phân chia thừa kế tại bình chánh, Tân Phú, Bình Thạnh, nhà bè | Luật Sư Cho Doanh Nghiệp | Luật Sư Chuyên Tư Vấn Thừa Kế Tại Quận 5 | Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự, ly hôn, thừa kế, nhà đất, doanh nghiệp | Trung tâm tư vấn pháp luật hình sự, ly hôn, thừa kế, nhà đất, doanh nghiệp | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Mua Bán Nhà | Tư Vấn Công Chứng Thừa Kế | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Kinh Doanh | Luật Sư Tư Vấn Soạn Thảo Hợp Đồng | Thừa Kế Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn Đòi Lại Nhà Đất | Dịch Vụ Luật Sư Thu Hồi Nợ Khó Đòi | Tranh chấp Cổ Đông/Nội Bộ Công Ty | Khởi Kiện Bồi Thường Danh Dự Nhân Phẩm | Luật Sư Tranh Chấp Thừa Kế Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Nhà | Luật Sư Chuyên Tư Vấn Khởi Kiện | Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình | Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng Góp Vốn | Tranh Chấp Tài Sản Chung Của Vợ Chồng | Luật Sư Giỏi Uy Tín Tại Việt Nam | Luật Sư Tại Sài Gòn Việt Nam Tư Vấn Cho Việt Kiều | Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Trọng Tài | Dịch Vụ Thành Lập Công Ty Trọn Gói Tại Tphcm | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Doanh Nghiệp | Tổng Đài Tư Vấn Pháp Luật | Luật Sư Tư Vấn Mua Nhà Đang Thế Chấp Ngân Hàng | Quyền Thừa Kế Nhà Đất Người Việt Nam Định Cư Ở Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn Tặng Cho Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Đứng Tên Dùm Nhà Đất/Căn hộ Chung Cư | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Cho Việt Kiều | Luật Sư Tư Vấn Mua Bán Căn hộ | Văn Bản Thỏa Thuận Tài Sản Của Vợ Chồng | Tư Vấn Pháp Luật Thừa Kế | Luật Sư Tư Vấn Trọn Gói Cho Doanh Nghiệp | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Thạnh, Bình Tân, Quận 6, Gò Vấp | Luật Sư Sài Gòn Chuyên Bào Chữa Ở Miền Tây | Dịch Vụ Luật Sư Đòi Nợ | Luật Sư Tư Vấn Mua Đất Nền | Luật Sư Tư Vấn Đơn Phương Ly Hôn Tại Quận 6 | Luật Sư Chuyên Giải Quyết Tranh Chấp Tài Sản Với Người Nước Ngoài | Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Đất | Thành Lập Chi Nhánh/Văn Phòng Đại Diện | Luật Sư Tư Vấn Công Ty Cổ Phần | Luật Sư Chuyên Tư Vấn Khai Di Sản Thừa Kế | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Thừa Kế Nhà Đất Tại Biên Hòa | Tranh Chấp Hợp Đồng Thuê Nhà | Điều Kiện Việt Kiều Mua Nhà Sài Gòn | Tư Vấn Bồi Thường Khi Bị Thu Hồi Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Nội Bộ Gia Đình/Doanh Nghiệp | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Mua Bán Căn Hộ Chung Cư | Các Video Luật Sư Trần Minh Hùng Trả Lời Trên Đài Truyền Hình HTV Và THVL | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Lao Động | Luật Sư Tư Tranh Chấp Mua Bán Đất Nền | Luật Sư Tại Chợ Lớn | Luật Sư Tư Vấn Về Án Phí | Tư Vấn Khởi Kiện Tranh Chấp Đất Đai | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Đặt Cọc | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Ranh Giới Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Lối Đi Chung | Giới thiệu | Luật Sư | Luật Sư Thừa kế | Thành Công Đạt Được | Luật Sư Riêng Cho Gia Đình Và Doanh Nghiệp | Báo Chí Và Chúng Tôi | Luật Sư Doanh Nghiệp | Luật Sư Nhà Đất | Luật Sư Di Trú | Luật sư Dân sự | Luật Sư Hình Sự | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn | Luật Sư Tranh Tụng | Luật sư tư vấn luật lao động | Văn phòng luật sư tư vấn cho việt kiều | Luật sư Chuyên Kinh Tế | Luật Sư Giỏi Về Hình Sự | Luật Sư Tư VấnTthừa Kế Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Doanh Nghiệp | Luật Sư Thi Hành Án | Luật Sư Tư Vấn Miễn Phí | Dịch Thuật Công Chứng | Luật Sư Riêng Cho Công Ty Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn | Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng | Luật Sư Công Nợ | Luật Sư Chuyên Tranh Tụng Tại Tphcm | Luật Sư Kinh Tế | Luật Sư Kinh Nghiệm | Hỏi đáp pháp luật | Văn bản pháp luật | Liên Hệ

  ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH

Chúng tôi tư vấn cho tất cả các khách hàng tại quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, tân bình, phú nhuận, Bình Thạnh, bình tân, tân phú, bình chánh... và các tỉnh trong cả nước. Chúng tôi tư vấn tận nhà, tận công ty nếu quý khách có nhu cầu thì liên hệ các luật sư gần nhất địa điểm quý vị đang sinh sống.

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Quận 6, TP.HCM (bên cạnh Phòng công chứng số 7).

Chi nhánh tại Biên Hòa, Đồng Nai: 5/1 Nguyễn Du, Quang Vinh, Biên Hoà, Đồng Nai (đối diện Toà án Tp. Biên Hòa).

NG: 68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, Quận 1.



Luật Sư Trần Minh Hùng, Trưởng văn phòng, điện thoại:

 0972238006 - Bàn: 028.38779958

       Để thuận tiện cho quý vị muốn gặp trực tiếp luật sư, vui lòng điện thoại trước cho luật sư khi quý vị đến văn phòng chúng tôi. Trân trọng cảm ơn.




Email: vanphongluatsugiadinh@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net.vn


Giấy phép số: 41.01.1999/TP/ĐKHĐ do Sở tư pháp Tphcm cấp 03/06/2013, chủ sở hữu website: Văn phòng luật sư Gia Đình