|
Về quy định phạt chủ
nếu không rọ mõm chó, thẩm quyền xử phạt trong trường hợp này là ai? Vì sao quy
định đã có nhưng tình trạng này xảy ra vẫn còn nhiều?
TƯ VẤN
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH:
Căn cư theo Điểm b
Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 204/2026/NĐ-CP ngày 11/6/2026 có hiệu lực pháp luật
ngày 01/8/2026
“Điều 8. Vi phạm
về phòng bệnh động vật trên cạn
Phạt tiền từ
1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không tiêm
phòng vắc-xin phòng bệnh Dại cho động vật bắt buộc phải tiêm phòng;
b)
Không đeo rọ mõm cho chó hoặc không xích giữ chó, không có người dắt khi đưa
chó ra nơi công cộng.”
Theo đó, trường hợp nếu chủ không
đeo rọ mõm cho chó thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
THẨM QUYỀN XỬ PHẠT
TRONG TRƯỜNG HỢP NÀY LÀ:
Căn cứ theo Điều
41, Điều 42, Khoản 1 Điều 48 Nghị định 204/2026/NĐ-CP ngày 11/6/2026 có hiệu lực
pháp luật ngày 01/8/2026
“Điều 48. Phân định thẩm quyền xử phạt
của Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan và Quản lý thị
trường
1.
Những người có thẩm quyền của Công an nhân dân có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính, có quyền áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và biện
pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực
thú y quy định tại khoản 6, khoản 7, khoản 8 Điều 6; khoản
3, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 7; điểm b khoản 2, điểm a khoản
7 Điều 8; khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6,
khoản 7, khoản 8, khoản 9, khoản 10, khoản 11, khoản 12, khoản 13 Điều 9; điểm
b khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 12; khoản 2 Điều 13;
khoản 1, khoản 2, khoản 4, khoản 6, khoản 7, khoản 8, khoản 9, khoản 10 Điều
22; khoản 1, điểm b, điểm c khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản
7 Điều 23; Điều 24; khoản 7, khoản 8 Điều 31 và khoản
3, khoản 4, khoản 5 Điều 34 của Nghị định này theo chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn được giao.
Theo
đó, trong phạm vi quản lý cấp cơ sơ đối việc xử lý vi phạm hành chính dưới hình
thức phạt tiền thì Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các cơ quan thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước chuyên nganh về chăn nuôi và thú y, ngoài ra thì phía cơ
quan công an đều có thẩm quyền xử phạt vi phạm trên. Vậy nên thẩm quyền xử phạt trong trường hợp trên
là Chủ tịch UBND (Điều 41), Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà nước chuyên ngành về chăn nuôi và thú y, một số chức danh khác (Điều
43) và những người có thẩm quyền của Công an nhân dân (Điều 43) sẽ
có thẩm quyền xử phạt. Bao gồm:
“Điều 41. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
1. Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cấp xã) có quyền:
a) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
2. Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) có quyền:
a) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
Điều 42. Thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước chuyên ngành về chăn nuôi và thú y và một số chức danh khác
1. Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi
và Thú y vùng thuộc Cục Chăn nuôi và Thú y; Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng,
Chế biến và Phát triển thị trường khu vực Trung Bộ, Chi cục trưởng Chi cục Chất
lượng, Chế biến và Phát triển thị trường khu vực Nam Bộ thuộc Cục Chất lượng,
Chế biến và Phát triển thị trường; Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực chăn
nuôi, thú y, quản lý chất lượng nông lâm, thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Môi
trường có quyền:
a) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
2. Giám đốc Sở Nông
nghiệp và Môi trường có quyền:
a) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
3. Cục trưởng Cục
Chăn nuôi và Thú y, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường,
Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư có quyền:
a) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
4. Trưởng đoàn kiểm
tra do Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến
và Phát triển thị trường, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư thành lập,
khi thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về chăn nuôi và thú y có thẩm quyền xử
phạt theo quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Trưởng đoàn kiểm
tra do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập, khi thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước về chăn nuôi và thú y có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại
khoản 3 Điều này.
Điều 43. Thẩm quyền của Công an nhân dân
1. Chiến sĩ
Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền phạt tiền đến 5.000.000 đồng.
2. Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động cấp đại đội có quyền:
a) Phạt tiền đến 10.000.000 đồng;
b) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
quy định tại điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
3. Trưởng đồn Công
an, Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động cấp tiểu đoàn, Thủy đội trưởng, Trưởng
trạm, Đội trưởng có quyền:
a) Phạt tiền đến 15.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
quy định tại điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
4. Trưởng Công an cấp
xã có quyền:
a) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
5. Trưởng Công an cửa
khẩu cảng hàng không quốc tế; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh kinh tế
gồm: Trưởng phòng An ninh công thương, Trưởng phòng An ninh nông, lâm, ngư nghiệp,
Trưởng phòng An ninh khoa học, công nghệ và tài nguyên, môi trường; Trưởng
phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội gồm:
Trưởng phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
về an ninh, trật tự và con dấu; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao
thông gồm: Trưởng phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, đường
sắt, Trưởng phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát và đấu tranh phòng, chống tội
phạm trên đường thủy nội địa, Thủy đoàn trưởng; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh mạng và phòng,
chống tội phạm sử dụng công nghệ cao gồm: Trưởng phòng Phòng, chống tội phạm sử
dụng không gian mạng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Trưởng phòng Phòng, chống
tội phạm sử dụng không gian mạng xâm phạm trật tự xã hội, Trưởng phòng An ninh
thông tin mạng, Trưởng phòng Bảo vệ an ninh hệ thống mạng thông tin quốc gia,
Trưởng phòng Giám sát thông tin mạng và phòng, chống hoạt động sử dụng không
gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Quản lý
xuất nhập cảnh gồm: Trưởng phòng Quản
lý nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài, Trưởng phòng Quản lý xuất
cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Giám đốc Trung tâm An ninh hàng không quốc
gia; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng An ninh nội địa, Trưởng
phòng An ninh chính trị nội bộ, Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật
tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng
phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma
túy, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát cơ động, Trưởng
phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát
phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng phòng An ninh mạng và phòng,
chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Trưởng
phòng An ninh kinh tế, Trưởng phòng An ninh đối ngoại, Chánh Văn phòng Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có quyền:
a) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
6. Giám đốc Công an
cấp tỉnh có quyền:
a) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
7. Cục trưởng Cục An
ninh kinh tế, Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát, điều tra Bộ Công an, Cục trưởng
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều
tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về
tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma
túy, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa
cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi
trường, Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ
cao, Cục trưởng Cục An ninh nội địa, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm
giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng, Tư lệnh Cảnh sát cơ động có quyền:
a) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;
b) Tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề
thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.”
TÌNH TRẠNG NÀY XẢY RA VẪN CÒN NHIỀU LÀ:
Dưới góc độ pháp luật: Thực tiễn thực thi pháp luật chưa
đảm bảo, nhận thức của người dân chưa cao, điều kiện xã hội chưa đáp ứng được
- Thực tiễn thực thi pháp luật chưa dảm bảo: Thực tế việc
các cơ quan có thẩm quyền xử phạt chưa thực hiện đầy đủ về quy định trên. Cụ thể:
+ Đối với một số địa phương hiện nay chưa chú trọng xem
xét xử phạt các hành vi vi phạm vì chưa diễn ra hậu quả
+ Thực hiện xử phạt nhưng chưa triệt để, chưa mang tính
răn đe đối với những cá nhân, tổ chức khác
+ Lực lượng kiểm tra, xử lý vi phạm chưa đủ bao phủ, chưa
đủ rộng để đảm bảo có thể xử phạt kịp thời, đúng người đúng hành vi.
ð Hiệu quả của sự răn phụ thuộc vào khả năng phát hiện và
xử lý hành vi vi phạm hơn là mức tiền phạt. Trường hợp hành vi vi phạm không bị
kiểm tra xử lý thì ngay cả mức phạt cao cũng không thay đổi lớn về việc răn đe
giảm thiểu các hành vi vi phạm.
- Nhận thức của người dân hạn chế: Nhận thức của người
dân chưa hiểu hết về những nguy cơ tiềm ẩn của hậu quả do hành vi vi phạm mang
lại
+ Do việc xử lý vi phạm từ các cơ quan có thẩm quyền chưa
triệt để dẫn đến nhận thức của người dân còn hạn chế: “Trong suy nghĩ của
người dân sẽ hành thành việc xử lý không có chỉ mới là quy định pháp luật, nhiều
người thực hiện nhưng chưa bị xử lý thì bản thân cũng sẽ không ảnh hưởng”
+
Nhận thức “Chó nhà nuôi hiền”, “Chó nhà nuôi không bệnh, không cắn” từ nhiều
người cũng là nguyên nhân chủ quan từ phía họ để dẫn đến hậu quả nghiêm.
+ Quy định pháp luật xử lý vi phạm chưa thay đổi được văn
hóa nuôi chó của một số người: “Phàm là con người những gì càng cấm thì người
ta càng làm. Việc Nhà nước cấm và ra mức xử lý vi phạm đối với hành vi trên khiến
một số chủ nuôi chó khó thay đổi trong một thời gian. Đặc biệt hơn nữa, trong
trường hợp việc xử lý chưa triệt để chưa răn đe thì còn làm cho họ càng thêm chắc
chắn lối nhận thức của mình là phù hợp.”
- Điều
kiện xã hội chưa đáp ứng: Thực tế không phải quy định pháp luật chưa đủ răn đe,
mức xử lý vi phạm chưa điều chỉnh được hành vi vi phạm mà nó còn do điều kiện
xã hội chưa đáp ứng được để quy định pháp luật có thể thực hiện hiệu quả hơn. Cụ
thể:
+ Nguồn lực kiểm tra, giám sát, xử lý còn hạn chế
+ Hệ thống quản lý, nuôi chó chưa hoàn thiện, chưa cụ thể
+
Chưa có cơ sở chung phục vụ cho thú nuôi
+
Ý thức, nhận thức của cộng đồng chưa đều
+
Công tác tuyên truyền, phổ cập nhận thức cho người dân về hậu quả do hành vi
mang lại chưa có.
Nguồn: https://tuoitre.vn/cho-tha-rong-khong-ro-mom-phat-den-2-trieu-dong-ai-co-quyen-xu-ly-100260803102501195.htm |