Sự việc này là lời cảnh báo đanh thép đối với những người đang được hưởng sự khoan hồng của pháp luật nhưng thiếu ý thức chấp hành kỷ luật.
Trước đó, Hồ Đông Tài từng bị tuyên án về tội cưỡng đoạt tài sản. Thay vì tận dụng cơ hội tự cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền, đối tượng đã cố ý không có mặt theo giấy triệu tập đến 5 lần.
Bên cạnh đó, Tài còn tự ý rời khỏi nơi cư trú mà không báo cáo, gây cản trở cho công tác quản lý và giáo dục. Những hành vi này đã trực tiếp tước đi quyền được hưởng án treo của chính đương sự.
Nghĩa vụ của người được hưởng án treo là gì?
Theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù, nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội được sửa chữa lỗi lầm tại cộng đồng, nhưng kèm theo đó là danh sách các nghĩa vụ bắt buộc.
Người hưởng án treo phải cam kết tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân và nội quy tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc. Chịu sự giám sát trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ.
Hằng tháng, người được hưởng án treo có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản về tình hình rèn luyện của bản thân. Mọi sự thay đổi về nơi ở, nơi làm việc hoặc việc vắng mặt tại địa phương đều phải thông qua quy trình xin phép và phê duyệt chặt chẽ.
Việc có mặt theo yêu cầu của cơ quan thi hành án không chỉ là thủ tục hành chính mà là trách nhiệm pháp lý cốt lõi để đánh giá quá trình hoàn lương.
Khi nhận được giấy triệu tập, người được hưởng án treo bắt buộc phải trình diện đúng thời gian và địa điểm quy định.
Người hưởng án treo có phải ngồi tù nếu vi phạm nghĩa vụ không?
Pháp luật quy định rất rõ về các chế tài xử lý khi có vi phạm xảy ra để đảm bảo tính răn đe. Cụ thể, trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp tự ý bỏ đi khỏi nơi cư trú mà không xin phép cũng được tính là một lần vi phạm sau khi cơ quan có thẩm quyền đã lập biên bản nhắc nhở và tổ chức kiểm điểm cho lần vắng mặt trước đó.
Thực tế vụ việc tại An Giang cho thấy sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật. Khi các biện pháp nhắc nhở và giáo dục không mang lại kết quả, việc áp dụng hình phạt tù giam là cần thiết.
Qua đó, người được hưởng án treo cần nhận thức sâu sắc rằng sự tự do mà họ đang có là sự tự do có điều kiện, cần trân trọng cơ hội và tuân thủ các quy định về giám sát.
Điều kiện để được rút ngắn thời gian thử thách là gì?
Ngược lại với những trường hợp vi phạm, những người chấp hành tốt nghĩa vụ sẽ có cơ hội được xem xét rút ngắn thời gian thử thách.
Theo Luật Thi hành án hình sự 2019 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, người được hưởng án treo có thể được Tòa án quyết định rút ngắn thời gian thử thách khi hội đủ các điều kiện khắt khe.
Trước hết, người đó phải đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo. Trong suốt quá trình này, phải có nhiều tiến bộ, thể hiện qua việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của người được hưởng án treo, chấp hành đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Đồng thời, việc xem xét này phải dựa trên đề nghị bằng văn bản của cơ quan được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
Mỗi năm, người chấp hành án treo chỉ được rút ngắn thời gian thử thách một lần từ 01 tháng đến 01 năm.
Nếu người hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và hội đủ các điều kiện khác, Tòa án có thể rút ngắn thời gian thử thách sớm hơn và với mức cao hơn so với quy định thông thường.
Đây chính là chính sách nhân đạo của Nhà nước nhằm khuyến khích người phạm tội nỗ lực phấn đấu, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
06 điều kiện để được hưởng án treo từ 10/5/2022
Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ban hành Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 sửa đổi Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn về án treo, trong đó sửa đổi quy định về điều kiện được hưởng án treo.
Theo đó, điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo bao gồm:
(1) Bị xử phạt tù không quá 03 năm.
(2) Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.
- Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật (trước đây quy định là 06 tháng) nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo;
- Đối với người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo; (Đây là nội dung mới bổ sung)
- Đối với người bị kết án mà vụ án được tách ra để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau (tách thành nhiều vụ án) và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo. (Đây là nội dung mới bổ sung)
(3) Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó:
- Có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Lưu ý: trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
(4) Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.
Trong đó:
- Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.
- Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
(5) Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu:
- Người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội;
- Không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
(6) Khi xem xét, quyết định cho bị cáo hưởng án treo Tòa án phải xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện để bảo đảm việc cho hưởng án treo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là đối với các trường hợp hướng dẫn tại khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP. (Đây là nội dung mới bổ sung)
Nghị Quyết 01/2022/ NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/5/2022.
LS TRẦN MINH HÙNG











































