Luật sư gia đình
Với phương châm "Luật Sư của Gia Đình Bạn, của doanh nghiệp" đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật uy tín thường xuyên tư vấn luật trên HTV, VTV, THVL, ANTV, VTC, SCTV, TH Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương, VOH và trên các tờ báo uy tín quốc gia... Chúng tôi chuyên tư vấn, bào chữa cho khách hàng, thân chủ trên mọi lĩnh vực đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp, ly hôn, công nợ, lao động, hợp đồng....
Trưởng VP:   LS TRẦN MINH HÙNG 
 
 
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Quan hệ pháp luật tranh chấp - Kiện đòi tài sản hay tranh chấp quyền sử dụng đất?
Luật sư tư vấn ly hôn nhanh tại quận 6
Vận chuyển bao nhiêu gam ma túy đá thì bị tử hình?
luật sư giỏi hình sự
Luật sư chuyên tư vấn pháp luật thừa kế tại quận bình tân
Một Việt kiều khởi kiện cháu trai ra Tòa vì không đòi được đất nhờ đứng tên
 Quy định chung khi lập di chúc thừa kế
Luật sư chuyên tư vấn pháp luật thừa kế tại quận bình tân
TRANH CHẤP THỪA KẾ CÓ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Những rủi ro pháp lý doanh nghiệp thường gặp

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ

Công nợ là gì? Thế nào là thủ tục khởi kiện thu hồi công nợ
Bản án về tội buôn lậu
Luật sư tư vấn tranh chấp thừa kế tại tphcm
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
luật sư thừa kế
Luật sư giỏi chuyên tranh tụng tại tòa án
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
luật sư công ty
luật sư thừa kế nhà đất
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư nhà đất thừa kế ly hôn doanh nghiệp
luật sư tư vấn ly hôn
luật sư nhà đất
luật sư thừa kế
ls
Luật sư tư vấn bào chữa tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

Vướng mắc trong hoạt động xét xử đối với tội danh: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

Cập nhật lúc: 11:47 27/12/2022

Trao đổi nghiệp vụ: Vướng mắc trong hoạt động xét xử đối với tội danh: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là tội danh ghép được quy định trong cùng một điều luật (Điều 341 BLHS), các hành vi trên đều xâm phạm cùng một khách thể được BLHS bảo vệ, đó là trật tự quản lý hành chính của nhà nước, của tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính của nhà nước, của tổ chức trong lĩnh vực quản lý về con dấu, tài liệu.

Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm từ 02 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;

d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;

b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức được hiểu là hành vi của người không có thẩm quyền cấp các con dấu, giấy tờ đó nhưng đã tạo ra các con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác bằng khắc, in, vẽ, đúc hoặc các kỹ thuật khác để làm giả con dấu, tài liệu hoặc các giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu, tài liệu hoặc các giấy tờ đó để thực hiện hành vi trái pháp luật. Việc làm giả này có thể là giả toàn bộ hoặc chỉ từng phần (tiêu đề, chữ ký, con dấu, nội dung…). Hành vi phạm tội này hoàn thành kể từ khi người không có thẩm quyền tạo ra được con dấu, tài liệu, các giấy tờ giả của một cơ quan Nhà nước, tổ chức nhất định.

Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được hiểu là việc dùng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả không phải do mình làm ra để thực hiện hành vi trái pháp luật.

Ví dụ đặt ra: Nguyễn Văn A không công tác trong lực lượng Công an nhân dân, tuy nhiên do thấy quảng cáo trên mạng xã hội Facebook, Nguyễn Văn A đã đặt mua một giấy chứng minh nhân dân công an mang tên Nguyễn Văn A cấp bậc đại úy với giá 2 triệu đồng. Khi đặt mua thì A có cung cấp thông tin cá nhân và hình ảnh chân dung của mình. Sau đó chủ trang mạng xã hội đã gửi đến cho Nguyễn Văn A một giấy chứng minh nhân dân công an mang tên Nguyễn Văn A giả. Sau khi có giấy chứng minh công an giả Nguyễn Văn A tham gia giao thông và có hành vi, vi phạm giao thông đường bộ, khi làm việc với lực lượng Cảnh sát giao thông Nguyễn Văn A đã dùng giấy chứng minh công an nhân dân giả để xin bỏ qua lỗi vi phạm, nhưng Nguyễn Văn A bị lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện dùng giấy tờ chứng minh công an giả và bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra huyện B xử lý theo thẩm quyền. Quá trình điều tra truy tố Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã khởi tố và truy tố Nguyễn Văn A với hai hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật”.

* Vấn đề đặt ra để giải quyết gồm:

1. Tại điểm d khoản 4 Điều 12 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định:

“Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: a)…b)…;c)…;d) khắc dấu giả hoặc sử dụng con dấu giả”.

Điểm, khoản này quy định rất rõ về hành vi khắc dấu giả hoặc sử dụng con dấu giả chỉ bị xử phạt hành chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Việc thực hiện hành vi này mặc dù đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liệu nhưng không thỏa mãn điều kiện có thực hiện hành trái pháp luật, thì không xem xét đề cập xử lý hình sự.

Do đó, nếu hành vi trên thực hiện hành vi trái pháp luật thì mới coi là tội phạm theo quy định Điều 341 BLHS. Ngược lại, nếu việc làm giả mà sử dụng vào mục đích khác thì không được coi là tội phạm, mà chỉ xem xét xử phạt hành chính.

Đối chiếu với quy định trên thì hành vi của Nguyễn Văn A có cấu thành tội phạm theo quy định Điều 341 BLHS, cụ thể về hành vi đặt mua, cung cấp thông tin hình ảnh để làm giấy chứng minh công an giả, cũng như việc xuất trình giấy chứng minh công an giả để xin lực lượng cảnh sát giao thông bỏ qua lỗi vi phạm của Nguyễn Văn A có phải là hành vi trái pháp luật hay không? Hay chỉ vi phạm pháp luật hành chính?

Hành vi của Nguyễn Văn A có phải chịu trách nhiệm về hai hành vi “Làm giả” và “sử dụng” tài liệu giả của cơ quan, tổ chức hay không? Hay chỉ thỏa mãn một trong hai hành vi là “Làm giả” hoặc “sử dụng” tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

2. Trong trường hợp có căn cứ xác định Nguyễn Văn A bị Cơ quan điều tra Công an huyện B và Viện kiểm sát nhân dân huyện B  khởi tố và truy tố Nguyễn Văn A với hai hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật”.

Khi Hội đồng xét xử đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của Nguyễn Văn A thì có cần phân hóa hai hành vi “Làm giả” và “sử dụng” tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để xem xét từng hành vi sau đó tổng hợp hình phạt đối với mỗi hành vi hay không? Hay chỉ cần xem xét mức khung hình phạt trong cùng một điều luật để quyết định mức hình phạt đối với hai hành vi?

* Theo quan điểm cá nhân tôi:

Vấn đề thứ nhất: Đối với hành vi của Nguyễn Văn A đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định Điều 341 BLHS đối với hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”, bởi lẽ hành vi đặt mua, cũng như cung cấp thông tin hình ảnh của mình để làm giấy chứng minh công an giả của Nguyễn Văn A đã thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm đối với hành vi “Làm giả...”, đối với hành vi xuất trình giấy chứng minh công an giả để xin lực lượng cảnh sát giao thông bỏ qua lỗi vi phạm của Nguyễn Văn A là sai quy định, tuy nhiên chưa thỏa mãn các yêu tố là “hành vi trái pháp luật”, cụ thể thuật ngữ “Trái pháp luật” được hiểu: “Trái pháp luật là việc thực hiện ngược lại với quy định của pháp luật được nhà nước đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Các quy phạm pháp luật được ghi nhận trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”

Đối chiếu các quy định trên thì hành vi của Nguyễn Văn A xuất trình giấy chứng minh công an giả để xin lực lượng cảnh sát giao thông bỏ qua lỗi vi phạm chưa có căn cứ xác định là “hành vi trái pháp luật” vì chưa được pháp luật điều chỉnh. Nên chưa thể xác định Nguyễn Văn A có hành vi “sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật”. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn A có thể xem xét để xử lý vi phạm pháp luật hành chính theo quy định pháp luật hành chính hiện hành.

Vấn đề thứ hai đặt ra: Trong trường hợp có căn cứ xác định Nguyễn Văn A bị Cơ quan điều tra Công an huyện B và Viện kiểm sát nhân dân huyện B  khởi tố và truy tố Nguyễn Văn A với hai hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật”.

Khi Hội đồng xét xử đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của Nguyễn Văn A thì quan điểm cá nhân tôi là cần phân hóa đánh giá tính chất mức độ của từng hành vi “Làm giả” và “sử dụng” tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để quyết định mức hình phạt phù hợp trong cùng một điều luật (Điều 341 BLHS), vì đây là tội ghép cùng một điều luật nên không thể tổng hợp theo quy định tại Điều 55 BLHS.

Bài viết trên là quan điểm cá nhân nên bản thân xin được trao đổi với các đồng nghiệp. Mong nhận được nhiều ý kiến tranh luận của đồng nghiệp và bạn đọc. Qua nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn xét xử đối với tội danh trên các tòa án địa phương vẫn còn nhiều cách hiểu, vướng mắc và xử lý giải quyết khác nhau bản thân kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền ban hành những hướng dẫn cụ thể đối với tội danh trên để việc áp dụng pháp luật có tính thống nhất cao, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

Đức Anh

Nguồn:http://toaandaklak.gov.vn/trao-doi-nghiep-vu/vuong-mac-trong-hoat-dong-xet-xu-doi-voi-toi-danh-lam-gia-con-dau-tai-lieu-cua-co-quan-to-chuc-toi-su-dung-con-dau-hoac-tai-lieu-gia-cua-co-quan-to-chuc-5910.html#:~:text=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20n%C3%A0o%20l%C3%A0m%20gi%E1%BA%A3%20con,06%20th%C3%A1ng%20%C4%91%E1%BA%BFn%2002%20n%C4%83m. 


LS TRẦN MINH HÙNG

Hỗ trợ trực tuyến

ĐIỆN THOẠI GẶP LUẬT SƯ : 0972238006(zalo, viber, telegram)
Hỗ trợ trực tuyến:
0972238006
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Thừa kế là gì, di sản thừa kế là gì, cách xác định di sản thừa kế
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CHO THUÊ NHÀ ĐẤT
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
luật sư tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp
luat su rieng cho cong ty
luật sư doanh nghiệp
luật sư doanh nghiệp
luật sư trả lời đài truyền hình
luật sư trả lời báo chí
Trang chủ | Hỏi đáp pháp luật | Văn bản pháp luật | Liên Hệ

  ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH

Chúng tôi tư vấn cho tất cả các khách hàng tại quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, tân bình, phú nhuận, Bình Thạnh, bình tân, tân phú, bình chánh, Thủ Đức... và các tỉnh trong cả nước. Chúng tôi tư vấn tận nhà, tận công ty nếu quý khách có nhu cầu thì liên hệ các luật sư gần nhất địa điểm quý vị đang sinh sống.

Liên hệ gặp luật sư: 

Văn phòng quận 6: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Quận 6, TP.HCM (địa chỉ mới: 402a Nguyễn Văn Luông, Phường Phú Lâm, TPHCM

(bên cạnh Phòng công chứng số 7).

Văn phòng quận 1: 68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TPHCM

Văn phòng Biên Hòa: 5/1 Nguyễn Du, Quang Vinh,

Biên Hoà, Đồng Nai.


Luật Sư Trần Minh Hùng, Trưởng văn phòng, điện thoại: 0972238006 (zalo-viber)- 028.38779958

Để thuận tiện cho quý vị muốn gặp trực tiếp luật sư, vui lòng điện thoại trước cho luật sư khi quý vị đến văn phòng chúng tôi. 

Trân trọng cảm ơn.




Email: vanphongluatsugiadinh@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net.vn
Giấy phép số: 41.01.1999/TP/ĐKHĐ do Sở tư pháp Tphcm cấp 03/06/2013, chủ sở hữu website: Trần Minh Hùng