Luật sư gia đình
Với phương châm "Luật Sư của Gia Đình Bạn, của doanh nghiệp" đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật uy tín thường xuyên tư vấn luật trên HTV, VTV, THVL, ANTV, VTC, SCTV, TH Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương, VOH và trên các tờ báo uy tín quốc gia... Chúng tôi chuyên tư vấn, bào chữa cho khách hàng, thân chủ trên mọi lĩnh vực đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp, ly hôn, công nợ, lao động, hợp đồng....
Trưởng VP:   LS TRẦN MINH HÙNG 
 
 
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Quan hệ pháp luật tranh chấp - Kiện đòi tài sản hay tranh chấp quyền sử dụng đất?
Luật sư tư vấn ly hôn nhanh tại quận 6
Vận chuyển bao nhiêu gam ma túy đá thì bị tử hình?
luật sư giỏi hình sự
Luật sư chuyên tư vấn pháp luật thừa kế tại quận bình tân
Một Việt kiều khởi kiện cháu trai ra Tòa vì không đòi được đất nhờ đứng tên
 Quy định chung khi lập di chúc thừa kế
Luật sư chuyên tư vấn pháp luật thừa kế tại quận bình tân
TRANH CHẤP THỪA KẾ CÓ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Những rủi ro pháp lý doanh nghiệp thường gặp

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ

Công nợ là gì? Thế nào là thủ tục khởi kiện thu hồi công nợ
Bản án về tội buôn lậu
Luật sư tư vấn tranh chấp thừa kế tại tphcm
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
luật sư thừa kế
Luật sư giỏi chuyên tranh tụng tại tòa án
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
luật sư công ty
luật sư thừa kế nhà đất
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư nhà đất thừa kế ly hôn doanh nghiệp
luật sư tư vấn ly hôn
luật sư nhà đất
luật sư thừa kế
ls
Áp dụng tiền sự khi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản

Áp dụng tiền sự khi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản

Người gửi: Phạm Tiến Nam
Tiền sự là tình tiết định tội trộm cắp tài sản của Bản án đã có hiệu lực pháp luật, có được áp dụng tiền sự này để truy tố trong vụ án trộm cắp tài sản khác. - Ngày 01/12/2015, Nguyễn Văn A có hành vi trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng, bị Công an xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng. Đến ngày 17/02/2016, A đã nộp phạt khoản tiền trên. - Ngày 23/9/2016, A thực hiện hành vi trộm cắp với giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng, do có tiền sự nên A đã bị khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. Ngày 17/01/2017, Tòa án xét xử sơ thẩm tuyên phạt A 06 tháng từ giam. Đến ngày 10/9/2017, A đã chấp hành xong bản án. - Ngày 15/7/2018, A tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp với giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng, do có tiền án, tiền sự nên A đã bị khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Vậy truy tố A về tội “Trộm cắp tài sản” ngày 15/7/2018 theo quy định tại các điểm a, b Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 hay chỉ theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015? (Nói cách khác: Tiền sự của A có được sử dụng nhiều lần làm tình tiết định tội không? Có truy tố A về điểm a Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 hay không?) + Quan điểm thứ nhất: Truy tố A về tội “Trộm cắp tài sản” ngày 15/7/2018 theo quy định tại các điểm a, b Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, bởi lẽ: Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định cấu thành tội phạm như sau: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168,169,170, 171, 172,174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: “Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính: Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”. Theo hướng dẫn tại điểm a Tiểu mục 6.2 Mục 6 Nghị quyết 01/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 12/5/2006 thì: Đối với các tội mà điều luật có quy định tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” nhưng chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền thì phân biệt như sau: a) Đối với điều luật quy định một tội (tội đơn) thì “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” là trước đó một người đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó. Như vậy A đang có 01 tiền án và chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính (có 01 tiền sự) và thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Tiền sự của A được sử dụng độc lập làm tình tiết định tội, không phụ thuộc vào hành vi A đã phạm tội trộm cắp tài sản ngày 23/9/2016, Tòa đã xử phạt và A đã chấp hành phần hình phạt mà bản án đã tuyên. Mặt khác hiện nay chưa có quy định tiền sự được áp dụng bao nhiêu lần để làm tình tiết định tội. Do đó khi truy tố cần áp dụng các điểm a, b Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 đối với A. + Quan điểm thứ hai: Không áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 để truy tố A về tội trộm cắp tài sản, bởi lẽ: Thứ nhất, tiền sự của A là tình tiết định tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, đã bị xử lý hình sự bằng bản án ngày 17/01/2017 của Tòa án và A đã chấp hành xong bản án này. Theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Tố tụng hình sự về không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm, thì không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Thứ hai, áp dụng quy định về tình tiết có lợi cho bị can, bị cáo, khi chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung này của Cơ quan có thẩm quyền, thì không áp dụng tiền sự trên để truy tố đối với bị can. Kiểm sát viên mong muốn được tham khảo ý kiến của các Cơ quan có thẩm quyền, Cơ quan cấp trên và đồng chí trong Ngành về vấn đề này để việc giải quyết vụ án được đúng quy định pháp luật.

Câu trả lời

Theo dữ liệu câu hỏi trên thì A đã bị xử phạt hành chính về tội trộm cắp tài sản vào ngày 01/12/2015, đến 17/2/2016, A đã nộp phạt hành chính. Theo quy định khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính về thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Trong thời hạn 1 năm kể từ ngày A nộp phạt (ngày 17/2/2016) thì A lại tiếp tục trộm cắp tài sản nên việc truy cứu trách nhiệm hình sự A là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với hành vi bị xử phạt hành chính của A trong thời hạn 1 năm kể từ khi nộp phạt (đến ngày 17/2/2017) sẽ được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, ngày 15/7/2018, A tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp sẽ tiếp tục bị xử lý hình sự thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS (do A chưa được xoá án tích) chứ không áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS bởi vì tiền sự của A đã quá 1 năm kể từ ngày nộp phạt được coi là chưa bị xử phạt hành chính.

Vụ 2, VKSNDTC

LS TRẦN MINH HÙNG TƯ VẤN TRÊN HTV

Hỗ trợ trực tuyến

ĐIỆN THOẠI GẶP LUẬT SƯ : 0972238006(zalo, viber, telegram)
Hỗ trợ trực tuyến:
0972238006
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Thừa kế là gì, di sản thừa kế là gì, cách xác định di sản thừa kế
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CHO THUÊ NHÀ ĐẤT
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
luật sư tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp
luat su rieng cho cong ty
luật sư doanh nghiệp
luật sư doanh nghiệp
luật sư trả lời đài truyền hình
luật sư trả lời báo chí
Trang chủ | Hỏi đáp pháp luật | Văn bản pháp luật | Liên Hệ

  ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH

Chúng tôi tư vấn cho tất cả các khách hàng tại quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, tân bình, phú nhuận, Bình Thạnh, bình tân, tân phú, bình chánh, Thủ Đức... và các tỉnh trong cả nước. Chúng tôi tư vấn tận nhà, tận công ty nếu quý khách có nhu cầu thì liên hệ các luật sư gần nhất địa điểm quý vị đang sinh sống.

Liên hệ gặp luật sư: 

Văn phòng quận 6: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Quận 6, TP.HCM (địa chỉ mới: 402a Nguyễn Văn Luông, Phường Phú Lâm, TPHCM

(bên cạnh Phòng công chứng số 7).

Văn phòng quận 1: 68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TPHCM

Văn phòng Biên Hòa: 5/1 Nguyễn Du, Quang Vinh,

Biên Hoà, Đồng Nai.


Luật Sư Trần Minh Hùng, Trưởng văn phòng, điện thoại: 0972238006 (zalo-viber)- 028.38779958

Để thuận tiện cho quý vị muốn gặp trực tiếp luật sư, vui lòng điện thoại trước cho luật sư khi quý vị đến văn phòng chúng tôi. 

Trân trọng cảm ơn.




Email: vanphongluatsugiadinh@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net.vn
Giấy phép số: 41.01.1999/TP/ĐKHĐ do Sở tư pháp Tphcm cấp 03/06/2013, chủ sở hữu website: Trần Minh Hùng