Phát hiện và xử lý vi phạm trong thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố 2026 ra sao?
Phát hiện và xử lý vi phạm trong thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố 2026 được quy định tại Điều 13 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 06/QĐ-VKSTC năm 2026, cụ thể như sau:
Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ việc, vụ án phải kịp thời phát hiện, theo dõi, tổng hợp vi phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra để yêu cầu khắc phục; báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu Thủ trưởng, cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật; nếu có dấu hiệu tội phạm thì báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra khởi tố vụ án hình sự; nếu có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp thì báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện chỉ đạo và chuyển ngay nguồn tin đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời có văn bản thông báo đến Vụ Công tố và Kiểm sát điều tra án tư pháp (Vụ 6).
Đối với lệnh, quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền điều tra thì xử lý như sau:
+ Lệnh, quyết định của Phó Thủ trưởng, Cấp phó cơ quan có thẩm quyền điều tra thì lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng, Cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi, hủy bỏ; nếu không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ;
+ Lệnh, quyết định của Thủ trưởng, Cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra thì lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ;
+ Lệnh, quyết định của cơ quan có thẩm quyền điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn thì lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ.
Trường hợp Viện kiểm sát quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ lệnh, quyết định theo quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì phải gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để thực hiện.
- Quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, Kiểm sát viên có trách nhiệm tổng hợp các vi phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý của cơ quan, tổ chức có liên quan, báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ban hành văn bản kiến nghị yêu cầu khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều 160, khoản 6, khoản 8 Điều 166 và khoản 1 Điều 237 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên giải quyết vụ việc, vụ án theo Quyết định 06 ra sao?
Phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên giải quyết vụ việc, vụ án được quy định tại Điều 7 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 06/QĐ-VKSTC năm 2026, cụ thể như sau:
- Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm hoặc quyết định khởi tố vụ án của cơ quan có thẩm quyền điều tra thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phải ra quyết định phân công giải quyết vụ việc, vụ án. Tùy theo tính chất của vụ việc, vụ án, lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện có thể phân công một hoặc nhiều Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cùng giải quyết vụ việc, vụ án.
Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ việc, vụ án thì Viện trưởng Viện kiểm sát có văn bản thông báo gửi cho cơ quan có thẩm quyền điều tra.
- Trường hợp phân công nhiều Kiểm sát viên, Kiểm tra viên giải quyết vụ việc, vụ án thì trong quyết định phân công phải phi rõ Kiểm sát viên thụ lý chính. Tại Viện kiêm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương, Kiểm sát viên thụ lý chính là Kiểm sát viên trung cấp trở lên; tại Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Kiểm sát viên thụ lý chính là Kiểm sát viên trung cấp trở lên; tại Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực, người thụ lý chính là Kiểm sát viên sơ cấp trở lên.
Kiểm sát viên thụ lý chính có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng Kiểm sát viên, Kiểm tra viên và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện về việc giải quyết vụ việc, vụ án.
- Kiểm tra viên tham gia giải quyết vụ việc, vụ án có trách nhiệm giúp việc cho Kiểm sát viên và tuân theo sự phân công, chỉ đạo nghiệp vụ của Kiểm sát viên. Các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công và chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của Kiểm sát viên thụ lý chính. Kiểm sát viên ở ngạch thấp hơn phải tuân theo sự phân công, chỉ đạo nghiệp vụ của Kiểm sát viên ở ngạch cao hơn.
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND ra sao?
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND được quy định tại Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi 2025 như sau:
- Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
- Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm:
+ Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật;
+ Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ;
+ Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh;
+ Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.
- Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu để Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp;
+ Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp;
+ Xử lý vi phạm; xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm;
+ Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp;
+ Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền;
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.
LS TRẦN MINH HÙNG