Bản ghi âm lén có được coi là chứng cứ trong vụ án hình sự không?
Bản ghi âm lén có được coi là chứng cứ trong vụ án hình sự không? Làm sao để bản ghi âm lén trở thành chứng cứ.
1. Chứng cứ và nguồn chứng cứ trong vụ án hình sự là gì?
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Trong đó, theo Điều 87 Bộ luật hình sự quy định về chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
Vật chứng;
Lời khai, lời trình bày;
Dữ liệu điện tử;
Kết luận giám định, định giá tài sản;
Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
Các tài liệu, đồ vật khác.
Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
2. Thẩm quyền thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự
Theo khoản 1 Điều 88 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 quy định về thu nhập chứng cứ: Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.
Theo Điều 34 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 quy định cơ quan tiến hành tố tụng:
Cơ quan điều tra;
Viện kiểm sát;
Tòa án.
Như vậy, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án là những cơ quan thực hiện thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự.
3. Bản ghi âm có được coi là chứng cứ trong vụ án hình sự không?
Theo Điều 87 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 quy định về nguồn của chứng cứ thì dữ liệu điện tử là một trong những nguồn của chứng cứ.
Theo Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 quy định về dữ liệu điện tử như sau:
Điều 99. Dữ liệu điện tử
1. Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.
2. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.
3. Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.
Như vậy, theo các quy định trên, bản ghi âm là một hình thức dữ liệu điện tử, được xem là nguồn chứng cứ trong vụ án hình sự. Nếu bản ghi âm này có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định thì được xem là chứng cứ.
4. Bản ghi âm lén có được coi là chứng cứ trong vụ án hình sự không?
Bản ghi âm được xác định là nguồn chứng cứ nhưng các bản ghi âm ” lén” chưa chắc đã được coi là chứng cứ.
Căn cứ khoản 4 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 khi tiếp nhận băng ghi âm liên quan đến vụ án do những người bào chữa, người bị hại, người làm chứng,.. cung cấp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định pháp luật.
Đồng thời, theo khoản 3 Điều 99 giá trị chứng cứ của bản ghi âm sẽ được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi, tính toàn vẹn của bản ghi âm, người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác. Sau đó, việc bản ghi âm ” lén” có phải là chứng cứ trong vụ án hình sự hay không là do Tòa án quyết định.
Do đó, để được tòa án chấp nhận bản ghi âm là chứng cứ của vụ án hình sự thì bản ghi âm đó phải đáp ứng được các điều kiện như được thu thập theo trình tự, thủ tục hợp pháp.
Nếu không bản ghi âm lén chỉ được xem là tài liệu có liên quan, có giá trị tham khảo chứ không có giá trị chứng minh trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự.
5. Hỏi đáp về bản ghi âm lén có được coi là chứng cứ trong vụ án hình sự không:
Việc cơ quan điều tra tiến hành đánh giá lời khai phải dựa trên nguyên tắc không dùng lời nhận tội làm chứng cứ duy nhất để kết tội; không dùng làm chứng cứ nếu họ không nói vì sao biết chứng cứ đó.
Câu hỏi 1: Luật sư cho tôi hỏi: Nguyên tắc đánh giá lời khai như thế nào? Tôi cảm ơn!
Việc cơ quan điều tra tiến hành đánh giá lời khai phải dựa trên nguyên tắc không dùng lời nhận tội làm chứng cứ duy nhất để kết tội; không dùng làm chứng cứ nếu họ không nói vì sao biết chứng cứ đó.
Phân loại chứng cứ là phân chứng cứ giúp quy định trình tự, thủ tục thu thập các loại chứng cứ để có phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp, bảo đảm tính chính xác, khách quan, giúp cơ quan tố tụng tuân thủ các quy định pháp luật về thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, lựa chọn phương pháp chứng minh và xác định đúng giá trụ chứng minh và sử dụng hợp lí chứng cứ. Vậy, chứng cứ trong tố tụng hình sự được phân loại như thế nào? Luật Duy Hưng xin giải đáp vấn đề này như sau:
1. Khái niệm chứng cứ
Điều 86 BLTTS 2015 giải thích “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong giải quyết vụ án.”
2. Ý nghĩa phân loại chứng cứ
Phân loại chứng cứ hình là phân chứng cứ thành các nhóm trên cở các căn cứ khác nhau nhằm mục đích nhất định từ đó giúp quy định trình tự, thủ tục thu thập các loại chứng cứ để có phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp, bảo đảm tính chính xác, khách quan, giúp cơ quan tố tụng tuân thủ các quy định pháp luật về thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, lựa chọn phương pháp chứng minh và xác định đúng giá trụ chứng minh và sử dụng hợp lí chứng cứ.
3. Phân loại chứng cứ
– Chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp
+/ Chứng cứ trực tiếp: là chứng cứ liên quan trực tiếp đến đối tượng chứng minh. Thông qua loại này có thể xác định được ngay những vấn đề cần phải chứng minh được quy định ở điều 85. Chứng cứ trực tiếp có giá trị chứng minh độc lập, có thể rút ra từ nguồn khác nhau như lời khai người bị bắt, bị can,… vật chứng, biên bản,..
+/ Chứng cứ gián tiếp: là chứng cứ không liên quan trực tiếp mà chỉ liên quan gián tiếp đến đối tượng chứng minh và chỉ qua những chứng cứ này không thể xác định được những vấn đề cần phải chứng minh được quy định điều 85 BLTTHS hay nói các khác nó chỉ xác định sự kiện chứng minh chứ không chỉ rõ được điều 85 và chỉ khi kết hợp với chứng cứ khác nó mới có giá trị chứng minh nhất định. Chứng cứ gián tiếp không có giá trị chứng minh độc lập và chỉ có giá trị chứng minh khi được thu thập, đánh giá trong tổng thể các chứng cứ khác nhau của vụ án.
– Chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội
+/ Chứng cứ buộc tội: là chứng cú xác định tội phạm được thực hiện, xác định người phạm tội, lỗi của người phạm tội, các tình tiết định khung tăng nặng, tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết khác bất lợi cho người phạm tội.
+/ Chứng cứ gỡ tội: là chứng cứ xác định không có hành vi phạm tội, xác định hành vi không cấu thành tội phạm, xác định các tình tiết loại trừ TNHS, tình tiết định khung giảm nhẹ, tình tiết giảm nhẹ TNHS và các tình tiết khác có lợi cho người phạm tội khi giải quyết vụ án.
– Chứng cứ gốc và chứng cứ sao chép, thuật lại
+/ Chứng cứ gốc: là căn cứ thu thập trực tiếp từ nơi xuất xứ của nó mà không qua khâu trung gian nào
+/ Chứng cứ sao chép lại, thuật lại là chứng cứ thu thập được không phải trực tiếp từ nơi xuất xứ của nó mà qua một hay nhiều khâu trung gian.
LS TRẦN MINH HÙNG











































