Trong bối cảnh đẩy mạnh phòng chống tham nhũng và xây dựng nền hành chính liêm chính, Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi được xem là một dạng tham nhũng gián tiếp, diễn ra thông qua các mối quan hệ cá nhân và ảnh hưởng không chính thức. Tội danh này đang được quy định cụ thể tại Điều 366 Bộ luật Hình sự 2015 với khung hình phạt răn đe nhất.
Khái quát về Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi:
1.1. Khái niệm:
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và tăng cường đấu tranh phòng chống tham nhũng, Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi đang có xu hướng diễn biến ngày càng tinh vi và khó phát hiện. Khác với các tội danh tham nhũng thông thường, hành vi phạm tội này thường không gắn trực tiếp với việc thực hiện công vụ mà được thực hiện thông qua các mối quan hệ xã hội, quan hệ cá nhân hoặc ảnh hưởng không chính thức đối với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức.
Trên thực tế, nhiều trường hợp người phạm tội không nắm giữ chức vụ, quyền hạn nhưng lại tự tạo dựng hình ảnh, uy tín hoặc lợi dụng mối quan hệ thân quen với cán bộ, công chức để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác với cam kết sẽ “lo liệu”, “tác động” hoặc “can thiệp” vào việc giải quyết công việc cho người có nhu cầu. Chính tính chất gián tiếp, khó kiểm chứng và thường diễn ra dưới vỏ bọc quan hệ dân sự hoặc xã hội đã khiến việc phát hiện, xử lý loại tội phạm này gặp nhiều khó khăn.
Có thể hiểu:
“Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi là hành vi của người không có chức vụ, quyền hạn hoặc có chức vụ, quyền hạn nhưng không trực tiếp giải quyết công việc, đã lợi dụng uy tín, mối quan hệ, vị thế hoặc ảnh hưởng thực tế của mình đối với người có chức vụ, quyền hạn để đòi hỏi, nhận hoặc sẽ nhận lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác nhằm tác động đến việc giải quyết công việc vì vụ lợi; qua đó xâm hại đến sự trong sạch, đúng đắn trong hoạt động của cơ quan, tổ chức.”
1.2. Ý nghĩa:
Việc hình sự hóa tội danh này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hệ thống các tội phạm về tham nhũng, không chỉ ở khía cạnh xử lý hành vi phạm tội cụ thể mà còn ở phương diện phòng ngừa, răn đe và bảo vệ trật tự quản lý Nhà nước.
- Thứ nhất, quy định tội danh này góp phần bảo vệ tính liêm chính, minh bạch và đúng đắn trong hoạt động của cơ quan, tổ chức. Thực tiễn cho thấy, không phải mọi hành vi trục lợi đều được thực hiện trực tiếp bởi người có chức vụ, quyền hạn; nhiều trường hợp được tiến hành thông qua những cá nhân trung gian, lợi dụng mối quan hệ, uy tín hoặc ảnh hưởng cá nhân để tác động đến người có thẩm quyền. Việc ghi nhận tội danh này đã lấp khoảng trống pháp lý, ngăn chặn các hành vi “tham nhũng gián tiếp” làm suy yếu kỷ cương, pháp luật nhưng khó xử lý nếu chỉ dựa vào các tội nhận hối lộ hoặc đưa hối lộ.
- Thứ hai, tội danh này có ý nghĩa ngăn ngừa và triệt tiêu cơ chế “xin – cho”, “chạy chọt” trong giải quyết công việc công vụ. Hành vi lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi nuôi dưỡng tâm lý cho rằng các quyết định của cơ quan nhà nước có thể bị chi phối bằng tiền bạc hoặc quan hệ cá nhân; từ đó làm “méo mó” bản chất phục vụ của bộ máy công quyền. Việc xử lý nghiêm loại tội phạm này góp phần thiết lập nguyên tắc thượng tôn pháp luật, khẳng định rằng mọi công việc phải được giải quyết đúng thẩm quyền, đúng trình tự và vì lợi ích chung, không phụ thuộc vào sự can thiệp phi pháp từ bên ngoài.
- Thứ ba, việc quy định và áp dụng tội danh này có ý nghĩa to lớn trong củng cố niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước và pháp luật. Khi các hành vi trục lợi dựa trên ảnh hưởng cá nhân bị xử lý nghiêm minh, người dân sẽ thấy rõ rằng pháp luật không chỉ điều chỉnh hành vi công vụ chính thức mà còn kiểm soát cả những biểu hiện tiêu cực nảy sinh từ các mối quan hệ xã hội xung quanh quyền lực nhà nước. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, phục vụ nhân dân và phát triển bền vững.
1.3. Cơ sở pháp lý:
Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi hiện nay đang được quy định tại Điều 366 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
“1. Người nào trực tiếp hoặc qua trung gian nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm của họ hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
b) Lợi ích phi vật chất.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội trong trường hợp tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
2. Cấu thành tội phạm của Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi:
2.1. Khách thể:
Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi xâm phạm trực tiếp đến: Hoạt động đúng đắn, minh bạch và liêm chính của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.
Hành vi vi phạm của Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi không chỉ tác động trực tiếp đến quá trình giải quyết công việc công vụ mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với bộ máy nhà nước, tạo môi trường dung dưỡng cho tình trạng tha hóa, biến chất của cán bộ, công chức; từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến kỷ cương, pháp luật và trật tự quản lý nhà nước.
2.2. Mặt khách quan:
Hành vi khách quan của Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi bao gồm 02 hành vi:
- Hành vi nhận lợi ích: Người phạm tội trực tiếp hoặc thông qua trung gian nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất từ người khác. Việc nhận lợi ích có thể nhằm mục đích đã, đang hoặc sẽ sử dụng ảnh hưởng của mình để can thiệp, tác động đến người có chức vụ, quyền hạn, yêu cầu họ làm hoặc không làm một việc thuộc thẩm quyền hoặc trái với quy định pháp luật.
- Hành vi dùng ảnh hưởng thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn: Người phạm tội lợi dụng mối quan hệ, uy tín hoặc ảnh hưởng cá nhân để tác động, chi phối hoặc gây áp lực đối với người có chức vụ, quyền hạn nhằm khiến họ thực hiện hành vi theo mong muốn của người đưa lợi ích. Hành vi này có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như trực tiếp trao đổi, gọi điện thoại, nhờ người khác truyền đạt, gửi thư từ… hoặc các phương thức giao tiếp khác.
Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã nhận được lợi ích có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc đã nhận lợi ích phi vật chất, không phụ thuộc vào việc người có chức vụ/quyền hạn có thực hiện hay không thực hiện yêu cầu của người phạm tội.
Do đó, tội danh này có cấu thành vật chất.
2.3. Chủ thể:
Chủ thể của tội danh này không nhất thiết phải là người có chức vụ, quyền hạn; và cũng không bắt buộc phải lợi dụng chính chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi phạm tội. Điểm đặc trưng của tội danh này là người phạm tội có ảnh hưởng nhất định đối với người có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng ảnh hưởng đó làm công cụ để trục lợi.
Ngoài ra, chủ thể của Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (Điều 12 và Điều 21).
2.4. Mặt chủ quan:
Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi được thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Họ nhận thức rõ hành vi lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để nhận lợi ích là trái pháp luật, thấy trước hậu quả xâm hại đến hoạt động của cơ quan, tổ chức nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm đạt được lợi ích cá nhân hoặc thực hiện theo yêu cầu của người đã đưa lợi ích.
3. Khung hình phạt của Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi:
Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi theo Điều 366 Bộ luật Hình sự 2015 gồm những khung hình phạt như sau:
- Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Khung 3: Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
- Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
4. Các tình tiết tăng nặng của Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi:
Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 366 Bộ luật Hình sự 2015:
- Phạm tội 02 lần trở lên: Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi từ 02 lần độc lập trở lên, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm và chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích. Tình tiết này phản ánh tính chất lặp lại, có hệ thống của hành vi phạm tội cho thấy người phạm tội không hành động mang tính bột phát mà đã biến việc lợi dụng ảnh hưởng thành phương thức trục lợi thường xuyên. Do mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn, pháp luật hình sự sử dụng tình tiết này làm căn cứ định khung tăng nặng nhằm xử lý nghiêm các hành vi trục lợi có tính chất dai dẳng, gây ảnh hưởng tiêu cực kéo dài đến hoạt động công vụ.
- Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng: Tình tiết này được xác định dựa trên giá trị lợi ích vật chất mà người phạm tội đã nhận và thể hiện mức độ trục lợi ngày càng nghiêm trọng. Khi lợi ích đạt đến ngưỡng từ 100.000.000 đồng trở lên thì hành vi phạm tội không chỉ xâm hại đến sự liêm chính trong hoạt động của cơ quan, tổ chức… mà còn làm gia tăng nguy cơ chi phối, tác động mạnh mẽ đến quyết định của người có chức vụ, quyền hạn. Giá trị lợi ích càng lớn thì khả năng làm ảnh hưởng đến hoạt động công vụ và gây bức xúc trong xã hội càng cao, do đó việc quy định khung hình phạt nặng hơn là cần thiết để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa chung.
- Tái phạm nguy hiểm: Tái phạm nguy hiểm là cá nhân đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý (Điều 53 Bộ luật Hình sự 2015).
- Phạm tội trong trường hợp tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 500.000.000 đồng trở lên: Đây là tình tiết định khung tăng nặng cao nhất, áp dụng đối với trường hợp người phạm tội trục lợi ở mức đặc biệt lớn. Khi giá trị lợi ích đạt từ 500.000.000 đồng trở lên thì hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại lớn về mặt kinh tế, mà còn đe dọa trực tiếp đến tính công bằng, minh bạch trong hoạt động của bộ máy Nhà nước, làm gia tăng nguy cơ tham nhũng và tiêu cực có tổ chức. Việc áp dụng khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước trong đấu tranh với hành vi mua bán ảnh hưởng ở quy mô lớn; qua đó bảo vệ uy tín của cơ quan, tổ chức và niềm tin của nhân dân.
5. Phân biệt với Tội nhận hối lộ:
|
Tiêu chí |
Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi (Điều 366 Bộ luật Hình sự 2015) |
Tội nhận hối lộ (Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015) |
|
Bản chất |
Lợi dụng ảnh hưởng cá nhân, mối quan hệ, uy tín đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi |
Lợi dụng trực tiếp chức vụ, quyền hạn của chính mình để nhận hối lộ |
|
Chủ thể |
Không bắt buộc là người có chức vụ, quyền hạn |
Bắt buộc là người có chức vụ, quyền hạn |
|
Hành vi vi phạm |
Nhận lợi ích để dùng ảnh hưởng thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm việc |
Nhận hoặc sẽ nhận lợi ích để trực tiếp làm hoặc không làm việc thuộc thẩm quyền |
|
Đối tượng tác động |
Người có chức vụ, quyền hạn khác |
Chính bản thân người phạm tội |
|
Giá trị lợi ích tối đa định khung |
Từ 500 triệu đồng trở lên (khoản 3 Điều 366 Bộ luật Hình sự 2015) |
Từ 1 tỷ đồng trở lên (khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015) |
| Khung hình phạt |
|
Như vậy, hình phạt của tội danh này nặng hơn so với Điều 366 Bộ luật Hình sự 2015 (cao nhất là tử hình). |
| Hình phạt bổ sung | Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. | Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. |
6. Bản án điển hình của Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi:
- Tên bản án:
Bản án về tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi số 143/2023/HS-PT ngày 11/09/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Nội dung vụ án:
Lợi dụng việc làm phóng viên nhà báo có quen biết hầu hết các đồng chí Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ tại các Trạm tuần tra xử lý vi phạm giao thông, nên từ giữa năm 2020 đến tháng 9 năm 2022, trong khi đang tác nghiệp tại địa bàn thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Huy L đã thỏa thuận là sẽ can thiệp với các đồng chí Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ tuần tra xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông để bỏ qua hoặc giảm nhẹ lỗi vi phạm (nếu xảy ra vi phạm) cho lái xe ô tô của Hoàng Văn D, Lê Văn N, Cao Văn S và Đỗ Nhật T và hàng tháng phải trả tiền cho Trần Huy L.
Trần Huy L đã hướng dẫn dán logo “NGUYÊN THỦY”, trước đầu xe ô tô để làm dấu hiệu khi can thiệp xử lý xe vi phạm. Kể từ giữa năm 2020 đến tháng 9 năm 2022, Trần Huy L đã 04 lần nhận tổng số tiền 61.000.000 đồng để tác động đến các đồng chí Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ tuần tra xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông tại các Trạm kiểm soát xử lý vi phạm giao thông trên tuyến đường Q xin giảm nhẹ hoặc bỏ qua lỗi vi phạm giao thông của các lái xe.
Trong quá trình thực hiện việc thỏa thuận, ngày 05/5/2021, Trần Huy L đã tác động nhờ anh Hồ Văn T1, Phó trạm trưởng Trạm cảnh sát giao thông huyện D, Công an tỉnh N bỏ qua, không xử lý lỗi “Không thắt dây an toàn” cho Hoàng Văn D khi điều khiển xe ô tô BKS: 37C-168.X vi phạm; còn xe ô tô của các anh Cao Văn S, Lê Văn N và anh Đỗ Nhật T không bị Cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra xử lý vi phạm nên không phát sinh sự can thiệp của Trần Huy L.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để nhằm tác động lên ý thức và hành động người có chức vụ, quyền hạn, thông qua người có chức vụ quyền hạn, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; làm ảnh hưởng đến uy tín, mất lòng tin của nhân dân và xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Vì vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 366 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Quyết định của Tòa án:
+ Tuyên bố bị cáo Trần Huy L phạm Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi;
+ Xử phạt bị cáo Trần Huy L 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng tội
Ngày 30/9/2025, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ban hành Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự (BLHS). Nghị quyết có nhiều nội dung mới so với văn bản hướng dẫn trước đây, đã kịp thời tháo gỡ nhiều khó khăn vướng mắc trong áp dụng pháp luật hình sự, điển hình như:
“Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Người phạm tội tự mình hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra;
Người phạm tội không có trách nhiệm sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra (như: việc bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ hoặc thuộc trách nhiệm dân sự của các bị cáo khác trong cùng vụ án) nhưng đã tự nguyện dùng tiền, tài sản của mình hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra;
Người phạm tội tự nguyện hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra, nhưng bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối nhận, mà số tiền, tài sản đó đã được giao cho cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác quản lý để thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra;
Có chứng cứ chứng minh người phạm tội tự nguyện hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra, nhưng bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự từ chối nhận và họ đã đem số tiền, tài sản đó cất giữ, gửi giữ để sẵn sàng thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả khi có yêu cầu.
Tình tiết này trước đây có nhiều quan điểm và cách vận dụng giữa các cơ quan tố tụng có khác nhau.
“Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS là trường hợp phạm tội khi có đủ 02 điều kiện sau đây:
Phạm tội lần đầu là trường hợp từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào hoặc trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; thuộc trường hợp được coi là không có án tích; trước đó đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích;
Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm hoặc trường hợp người phạm tội có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm về tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
“Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS là trường hợp phạm tội khi có đủ 02 điều kiện sau đây:
Người phạm tội là người đã thành niên;
Người phạm tội biết rõ người bị xúi giục là người dưới 18 tuổi.
Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp (khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết): trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bên cạnh đó, nghị quyết còn nêu rõ thêm 09 tình tiết cũng được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS như:
1. Người phạm tội đầu thú là trường hợp sau khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện, người phạm tội tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình.
2. Người phạm tội tự nguyện nộp lại ít nhất một phần hai số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội hoặc tiền phạt bổ sung theo bản án, quyết định của Tòa án.
3. Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu, chống dịch.
4. Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế được cấp có thẩm quyền xác nhận, nhưng vì lý do khách quan chưa kê khai đề nghị nên chưa có Huân chương, Huy chương.
5. Người phạm tội có mẹ hoặc bà được Nhà nước tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng; có cha, mẹ, ông, bà được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
6. Người phạm tội có cha, mẹ được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen về những thành tích xuất sắc trong công tác.
7. Người bị hại hoặc người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại hoặc gây thiệt hại về tài sản.
8. Người bị hại cũng có lỗi hoặc thiệt hại do lỗi của người thứ ba.
9. Người phạm tội có từ 03 con nhỏ trở lên đều dưới 15 tuổi hoặc có con bị khuyết tật nặng trở lên, bị bệnh hiểm nghèo mà vợ, chồng không có công ăn việc làm, gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận.
Ngoài những nội dung trên, Nghị quyết đã quy định rõ hơn, chi tiết hơn các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đưa ra nhiều ví dụ cụ thể. Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2025. Trường hợp người phạm tội đã bị xét xử trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực theo đúng các văn bản hướng dẫn trước đây và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì không căn cứ vào Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần tiếp tục nghiên cứu để áp dụng chính xác trong thời gian tới./.











































