|
ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HCM
VPLS GIA ĐÌNH
Văn phòng quận 6:
402A Nguyễn Văn Luông, Phường Phú Lâm, TP. Hồ Chí Minh
Văn phòng quận 1:
68/147 Trần Quang khải, Tân Định, Quận 1, TP.HCM
ĐT:
0972238006 - 028.38779958
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Văn phòng luật sư Gia Đình là một hãng luật được quyền
cung cấp dịch vụ pháp lý là luật sư tư vấn pháp luật thường xuyên trên Đài
Truyền hình HTV7, HTV9, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài truyền hình Việt Nam
(VTV), Đài truyền hình cáp VTC, Truyền hình Cần Thơ, Đài VOV Giao Thông,
SCTV, Truyền hình Công an ANTV, Truyền hình Quốc hội Việt Nam, Đài phát thanh
Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo công an nhân dân, Báo Công an TPHCM,
Thanh Niên, Báo pháp luật… và nhiều hãng báo chí khác... là luật sư được Trường
Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định Cấp
Quốc Gia, học thuật với trường Đại học Cảnh sát nhân dân. Là Luật sư bào
chữa, tư vấn, bảo vệ cho nhiều vụ án trên mọi lĩnh vực…
|
BÀI
BẢO VỆ CHO ÔNG
MAI VĂN NÔNG TRONG PHIÊN TÒA SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN KHU VỰC 8, THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
Tôi luật sư Trần Minh Hùng – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi
kính mong Qúy tòa chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
ông Mai Văn N.... với những lý do như sau:
Thứ nhất, có đủ căn
cứ xác định ông Mai Văn N là người trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định toàn bộ
khu đất có diện tích khoảng 5.802,2 m² (tương đương 50 cao đất) từ năm 1983.
Năm 1983 ông Mai
Văn Nông nhận chuyển nhượng của ông Mai Văn Nghĩa toàn bộ khu đất với diện tích
khoảng 50 cao đất (tương đương khoảng 5.802,2 m²), với giá 07 phân vàng 24K.
Việc chuyển nhượng
được thực hiện vào thời điểm công tác đo đạc địa chính chưa được hiện đại, diện
tích đất được xác định theo đơn vị đo truyền thống của địa phương tính bằng
"cao đất" và chỉ xác định ranh giới tự nhiên trên thực địa. Vì vậy,
diện tích đo đạc sau này có sự chênh lệch so với cách tính dân gian là điều
khách quan, không làm thay đổi bản chất của việc chuyển nhượng toàn bộ khu đất
với diện tích 5.802,2 m².
Quan trọng hơn, quá
trình sử dụng đất của ông Mai Văn Nông được nhiều người dân sinh sống lâu năm tại
địa phương, Trưởng ấp, cán bộ thu thuế nông nghiệp, các hộ giáp ranh và đại diện
UBND xã xác nhận. Đây là chứng cứ khách quan chứng minh ông Mai Văn Nông là người
sử dụng đất đối vời toàn bộ khu đất có diện tích 5.802,2 m² tương đương 50 cao
đất thời điểm đó.
Như vậy, có đủ cơ sở
xác định ông Mai Văn Nông là người sử dụng thực tế, liên tục và ổn định đối với
toàn bộ khu đất nêu trên trước thời điểm các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được cấp cho ông Lê Văn Gom và ông Lê Văn Xom.
Thứ hai, việc cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 0921 QSDĐ/7-3-1997 cho ông Lê Văn Gom đối với diện
tích 1.090 m² thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ số 8 cũ là không đúng quy định pháp
luật vì không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ theo Điều 2,
Luật đất đai 1993 quy định:
“Điều 2
1- Người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác
nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.”
Căn cứ theo quy định
trên, để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào thời điểm năm 1997 thì
người được cấp phải là người đang sử dụng đất ổn định và được UBND cấp xã xác
nhận.
Tuy nhiên, trong vụ
án này cho đến thời điểm hiện tại, không có hồ sơ tài liệu nào chứng minh tại
thời điểm 1997, Ủy ban nhân dân xã xác nhận ông Gom là người trực tiếp quản lý,
sử dụng ổn định đối với phần đất diện tích 1.090 m² thuộc thửa đất 90, tờ bản đồ
số 8 cũ. Không có tài liệu, chứng cứ hồ sơ kê khai đăng ký đất; tài liệu chứng
minh nguồn gốc sử dụng đất ổn định lâu dài; tài liệu thể hiện quá trình quản
lý, sử dụng đất ổn định; biên bản xác minh hiện trạng hoặc các tài liệu khác chứng
minh ông Gom là người trực tiếp sử dụng phần đất được cấp. Đồng thời, cũng
không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện ông Lê Văn Gom đã đóng thuế sử dụng đất
qua từng năm.
Ngược lại, toàn bộ
tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ lại thể hiện ông Mai Văn Nông là người quản lý
và sử dụng toàn bộ khu đất từ năm 1983; được chính quyền địa phương, các hộ
giáp ranh và nhiều người dân xác nhận; đồng thời có các chứng từ thực hiện
nghĩa vụ tài chính đóng thuế đầy đủ trong khoản thời gian dài.
Do đó, việc cấp Giấy
chứng nhận cho ông Lê Văn Gom khi chưa có căn cứ chứng minh ông Gom là người sử
dụng đất hợp pháp nhưng lại bỏ qua người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất là
ông Mai Văn Nông đã dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận không đúng đối tượng sử dụng
đất, xâm phạm trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của ông Mai Văn Nông.
Thứ ba, UBND huyện Củ Chi cũ
không thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về việc cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0921 QSDĐ/7-3-1997 cho ông Lê Văn Gom đối
với diện tích 1.090 m² thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ số 8 cũ.
Căn cứ theo
Thông tư số 302 TT/ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thi hành quyết định về việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, như sau:
“IV- Triển
khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các cấp:
1. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là công việc kết thúc của quá trình lập hồ sơ địa chính ban đầu, nó được tiến
hành trên cơ sở đã làm tốt và đầy đủ khâu điều tra
đo đạc, phân hạng, phân loại đất, lập bản đồ địa chính, kê khai
đăng ký quyền sử dụng đất, lập sổ địa chính.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các
cấp là trách nhiệm của UBND. Cơ quan quản lý ruộng đất mỗi cấp là cơ
quan thường trực, cùng với một số ngành liên quan có
trách nhiệm giúp UBND cấp mình tổ chức triển khai cụ thể.
Triển khai công việc này ở từng cấp
phải qua các bước chủ yếu sau đây:
a) Chuẩn bị điều kiện để tổ chức
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- Đánh giá lại toàn bộ việc
đo đạc, phân hạng, đăng ký thống kê ruộng đất, lập hồ sơ địa chính của tỉnh,
huyện, xã.
- Đề ra chủ trương, biện
pháp, lập kế hoạch về nhiệm vụ tài chính, vật tư và
phương án tác nghiệp cụ thể ở từng cấp.
- Chuẩn bị đầy đủ những điều
kiện cụ thể về tiền vốn, vật tư, nhân lực và các điều kiện
khác theo phương án tác nghiệp đã xác định.
- Tổ chức phổ biến quán triệt
chủ trương kế hoạch cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến
các cấp, các ngành, tổ chức học tập cho toàn dân về các văn bản pháp luật
đất đai mới ban hành, có liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
- Làm điểm rút kinh nghiệm, tập
huấn bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ trực tiếp tham gia việc
cấp giấy chứng nhận.
- Hình thành các tổ chỉ đạo ở
các cấp.
- Tiến hành các công việc chuyên
môn về kiểm tra đánh giá và tổ chức bổ sung hoàn thiện bản đồ và
sổ địa chính, đảm bảo đủ điều kiện để tổ chức cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
b) Tổ chức việc xét duyệt để cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- Tổ chức việc xét từng tổ chức
và cá nhân sử dụng đất theo những điều kiện đã qui định: Công việc này được
tiến hành theo đơn vị xã, thị trấn, thị xã, quận, thành phố thuộc
tỉnh. Để giúp UBND thực hiện việc xét này, ở mỗi đơn vị hành
chính trên được thành lập Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
- Phê duyệt để cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được thực hiện ở 2 cấp: UBND huyện và UBND tỉnh tùy thuộc
vào thẩm quyền đã được qui định.
c) Giao giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho người được cấp: phải tiến hành trực tiếp và do UBND xã tổ
chức theo những hình thức thích hợp.
d) Lập hồ sơ lưu trữ và sổ
sách theo dõi ở các cấp căn cứ vào các bước trên đây. UBND từng cấp lập
kế hoạch triển khai.”
Như vậy theo căn cứ viện dẫn trên
thì việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện sau khi đã
hoàn thành đầy đủ thủ tục các bước như: điều tra, đo đạc, lập bản đồ địa chính,
kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, lập sổ địa chính, tổ chức xét duyệt người sử
dụng đất đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận, giao Giấy chứng nhận cho người
được cấp và lập hồ sơ lưu trữ theo quy định.
Tuy nhiện, hiện tại hồ sơ trong vụ
án này không có các tài liệu chứng minh UBND huyện Củ Chi cũ đã thực hiện đầy đủ
các bước nêu trên, trước khi cấp Giấy chứng nhận cho ông Lê Văn Gom, cụ thể như
không có hồ sơ kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất của ông Gom, không có tài liệu
thể hiện việc xác minh nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất của ông Gom, không
có tài liệu thể hiện việc tổ chức xét duyệt để xác định ông Gom là người đủ điều
kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không có hồ sơ địa
chính, sổ địa chính hoặc các tài liệu lưu trữ liên quan đến quá trình cấp Giấy
chứng nhận theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc UBND huyện Củ Chi cũ
không cung cấp được hồ sơ, tài liệu để chứng minh đã thực hiện đầy đủ trình tự,
thủ tục cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Thông tư số 302-TT/ĐKTK ngày
28/10/1989 và Luật Đất đai năm 1993. Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 0921 QSDĐ/7-3-1997 cấp cho ông Lê Văn Gom là không có căn cứ, không đúng
trình tự, thủ tục và không đúng đối tượng.
Thứ tư, việc cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AC826266 cấp ngày 22/6/2005 cho ông Lê Văn Xom là
không đúng quy định của pháp luật.
Năm 2005, ông Lê
Văn Gom thực hiện việc tặng cho một phần quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 90
cho ông Lê Văn Xom và được UBND huyện Củ Chi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AC826266 ngày 22/6/2005 sau khi thực hiện thủ tục tách thửa.
Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện việc đo đạc, tách thửa và lập hồ sơ địa chính để cấp Giấy
chứng nhận cho ông Lê Văn Xom vào năm 2005, UBND huyện Củ Chi không xác minh đầy
đủ hiện trạng sử dụng đất và ranh giới giữa các thửa đất liền kề. Ông Mai Văn
Nông là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất liền kề nhưng không được
thông báo, không được tham gia ký biên bản xác định ranh giới và cũng không biết
việc cấp ông Xom được Giấy chứng nhận.
Ngoài ra, Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 0921 QSDĐ/7-3-1997 cấp cho ông Lê Văn Gom là không
đúng đối tượng và trái quy định của pháp luật thì Giấy chứng nhận số AC826266 cấp
cho ông Lê Văn Xom cũng trái quy định pháp luật, vì quyền sử dụng đất được hình
thành từ Giấy chứng nhận năm 1997 của ông Gom. Do đó, không có cơ sở pháp lý để
công nhận phần diện tích đất 396,1 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp
cho ông Lê Văn Xom.
Thứ năm, UBND huyện
Củ Chi cũ còn nhiều sai sót trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông Lê Văn Gom năm 1997 và ông Lê Văn Xom năm 2005.
Năm 1997, khi UBND
huyện Củ Chi cấp giấy chứng nhận lần đầu cho ông Gom, giữa ông Gom và ông Nông
cũng không ký biên bản giáp ranh, và cũng không có hồ sơ, tài liệu nào thể hiện
các bên ký biên bản giáp ranh với nhau. Ngoài ra, UBND huyện Củ Chi không lưu
giữ hồ sơ kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho ông Lê Văn Gom. Như vậy,
hồ sơ cấp Giấy chứng nhận lần đầu chưa bảo đảm đầy đủ trình tự, thủ tục theo
quy định.
Hơn nữa, tại phiên
tòa vào ngày 17/6/2026, trong phần thủ tục hỏi, ông Nông cũng đã xác nhận rằng
tại thời điểm năm 2005 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Xom, thì
các bên không có ký biên bản giáp ranh, cũng không xác định ranh mốc đất, vì thực
tế đây là phần đất của ông Nông.
Tuy nhiên, ông Xom lại
cho rằng có ký giáp ranh với ông Nông, nhưng lời khai này là không khách quan. Nếu
sự thật có ký biên bản giáp ranh xác định ranh mốc đất thì biên bản này phải được
lưu trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận của ông Xom năm 2005. Nhưng trong hồ sơ vụ
án không có tài liệu, chứng cứ thể hiện ông Nông và ông Xom có ký biên bản giáp
ranh. Cho thấy, UBND huyện Củ Chi cũ đã thiếu sót, và vi phạm về trình tự thủ tục
trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Xom.
Thứ sáu, ông Mai
Văn Nông có đóng thuế sử dụng đất đầy đủ từ 1994 và có đầy đủ các biên lai đóng
thuế.
Ông Mai Văn Nông đã thực hiện
nghĩa vụ thuế đối với toàn bộ diện tích đất đang sử dụng trong thời gian dài. Các
thông báo nộp thuế có trong hồ sơ thể hiện ông Nông đã thực hiện nghĩa vụ tài
chính đối với diện tích đất này từ năm 1992 và các năm tiếp theo, đóng thuế trước
khi ông Gom được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc kê khai, nộp thuế
liên tục trong thời gian dài là chứng cứ khách quan thể hiện ông Nông là người
trực tiếp quản lý, sử dụng đất trên thực tế và được cơ quan quản lý nhà nước
ghi nhận.
Thực tế không có cơ sở để cho rằng
một người lại liên tục kê khai, đóng thuế trong nhiều năm đối với diện tích đất
mà mình không quản lý, không sử dụng và không có quyền lợi liên quan. Từ các chứng
cứ nêu trên, có thể khẳng định ông Mai Văn Nông là người trực tiếp quản lý, sử
dụng ổn định, liên tục đối với phần diện tích đất tranh chấp.
Từ những phân
tích nêu trên, tôi kính đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của ông Mai Văn Nông.
-
Yêu cầu Tòa án hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0921
QSDĐ/7-3-1997 do UBND huyện Củ Chi cấp ngày 07/8/1997 cho ông Lê Văn Gom đối với
phần đất có diện tích 1.090 m², thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ số 8 (nay thuộc
thửa đất số 995, tờ bản đồ số 16).
- Yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AC826266, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
H01118/12 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp ngày 22/06/2005 cho ông Lê Văn
Xom.
- Tôi yêu cầu đưa ông Lê Văn Gom là bị đơn trong vụ
án, không phải là người liên quan.
- Yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Văn
Xom chấm dứt hành vi lấn chiếm, trả lại cho ông Mai Văn Nông phần diện tích
396,1 m², tờ bản đồ số 995, tờ bản đồ số 16, tại xã Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh (địa
chỉ cũ là tại: xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh).
- Yêu Tòa án công nhận ông Mai
Văn Nông là chủ sử dụng hợp pháp của diện tích đất 396,1 m², tờ bản đồ số 995,
tờ bản đồ số 16, tại xã Củ Chi, Tp.Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ là tại: xã Tân Phú
Trung, huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh), ông Mai Văn Nông được liên hệ cơ quan
nhà nước có thẩm quyền để xin được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện
tích đất 396,1 m², tờ bản đồ số 995, tờ bản đồ số 16 nêu trên theo quy định.
- Yêu cầu phải thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận lần đầu cho
ông Lê Văn Xom, vì trong hồ sơ vụ án không có hồ sơ cấp giấy chứng nhận lần đầu
(như xác nhận của ủy ban xã đất không tranh chấp, biên bản ký giáp ranh, tờ tường
trình nguồn gốc nhà đất, biên lai đóng thuế, hồ sơ liên quan chứng minh nguồn gốc
sử dụng đấ…).
Kính mong Qúy tòa xem xét chấp nhận.
Trân trọng cảm ơn.
LS TRẦN MINH HÙNG
|