Luật sư gia đình
Với phương châm "Luật Sư của Gia Đình Bạn, của doanh nghiệp" đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật uy tín thường xuyên tư vấn luật trên HTV, VTV, THVL, ANTV, VTC, SCTV, TH Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương, VOH và trên các tờ báo uy tín quốc gia... Chúng tôi chuyên tư vấn, bào chữa cho khách hàng, thân chủ trên mọi lĩnh vực đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp, ly hôn, công nợ, lao động, hợp đồng....
Trưởng VP:   LS TRẦN MINH HÙNG 
 
 
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Quan hệ pháp luật tranh chấp - Kiện đòi tài sản hay tranh chấp quyền sử dụng đất?
Luật sư tư vấn ly hôn nhanh tại quận 6
Vận chuyển bao nhiêu gam ma túy đá thì bị tử hình?
luật sư giỏi hình sự
Luật sư chuyên tư vấn pháp luật thừa kế tại quận bình tân
Một Việt kiều khởi kiện cháu trai ra Tòa vì không đòi được đất nhờ đứng tên
 Quy định chung khi lập di chúc thừa kế
Luật sư chuyên tư vấn pháp luật thừa kế tại quận bình tân
TRANH CHẤP THỪA KẾ CÓ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Những rủi ro pháp lý doanh nghiệp thường gặp

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ

Công nợ là gì? Thế nào là thủ tục khởi kiện thu hồi công nợ
Bản án về tội buôn lậu
Luật sư tư vấn tranh chấp thừa kế tại tphcm
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
luật sư thừa kế
Luật sư giỏi chuyên tranh tụng tại tòa án
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
luật sư công ty
luật sư thừa kế nhà đất
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư nhà đất thừa kế ly hôn doanh nghiệp
luật sư tư vấn ly hôn
luật sư nhà đất
luật sư thừa kế
ls
Cách chia thừa kế theo quy định luật dân sự?

1. Cách chia thừa kế theo quy định luật dân sự?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông A kết hôn hợp pháp với bà B sinh được 2 người con là C (15 tuổi) và D (13 tuổi ). Năm 2017 ông A chết. Biết cha mẹ ông A còn sống, tài sản để lại là 6 tỉ đồng. Chia thừa kế của ông a trong các trường hợp sau:
1. Trước khi chết, ông A không lập di chúc ?
2. Ông a để lại toàn bộ tài sản cho C ?
Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Gỉa sử bố mẹ ông A lần lượt là E và F

Giả sử tài sản ông A có được trong thời kỳ hôn nhân nên được chia đều cho vợ và chồng

A = B = 3 Tỷ

1. Trước khi chết ông A không để lại di chúc.

Vì ông A trước khi chết không để lại di chúc nên tài sản ( 3 Tỷ) của ông sẽ được chia thừa kế theo pháp luật thuộc Điều 649 Bộ luật dân sự 2015.

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người cùng hàng thừa kế sẽ nhận được phần thừa kế bằng nhau.

=> B = C = D = E = F = 600 triệu.

2. Trước khi chết ông A để lại di chúc toàn bộ tài sản cho C.

Một suất thừa kế theo pháp luật tài sản của A = 3 Tỷ : 5 người = 600 tr

Theo quy định của Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Như vậy, mặc dù di chúc thì ông A để lại toàn bộ tài sản cho C, nhưng cả B,D,E,F đều là đối tượng hưởng ít nhất 2/3 của 1 suất thừa kế theo pháp luật.

=> B = D = E = F = 2/3 của 600 tr = 400 triệu

=> C = 3 Tỷ - (400 x 4) = 1.4 tỷ

2. Vướng mắc về chế định Thừa kế, đất đai ?

Thưa luật sư, Ông A và bà B kết hôn năm 1975 có 3 người con C, D, E đã có công ăn việc làm ổn định. Năm 2016 ông A chết để lại di chúc cho D hưởng 2/3 tài sản của mình. Cho hội từ thiện 200 triệu và cho cháu Quỳnh 100 triệu. Tổng giá trị tài sản của ông A là 750 triệu và một ngôi nhà trị giá 300 triệu Ông A còn mẹ đang sống với người em trai.
Vậy chia di sản cho vợ và hai người con không có tên trong di chúc trong trường hợp này như thế nào?

Trả lời:

Tổng giá trị tài sản của ông A để lại là: 750 triệu+ 300 triệu= 1 tỷ 50 triệu đồng

Có thể thấy rằng trong di chúc của ông A thì bà B và hai người con là C, E không được hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên cần xem xét những đối tượng này có thuộc trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay không.

Theo quy định điều 644 Bộ luật dân sự 2015:

"Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động..".

Có thể thấy bà B là vợ nên thuộc trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. C và E đã thành niên và có khả năng lao động nên không thuộc trường hợp này.

Để xác định di sản mà bà B được hưởng sẽ chia toàn bộ di sản thừa kế theo pháp luật, theo đó sẽ chia đều cho 5 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là: mẹ ông A, bà B, C, D, E mỗi suất thừa kế= 210 triệu đồng.

Do ông A không cho hưởng di sản nên bà B sẽ được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật (210 x 2/3= 140 triệu đồng)

Như vậy, bà B sẽ được hưởng di sản là 140 triệu đồng; C và E không được hưởng di sản do không được thừa kế theo di chúc và cũng không thuộc trường hợp hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Trân trọng./.

3. Khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật ?

Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Cho em hỏi, mẹ em đã mất lâu rồi, bố em đi lấy vợ khác. Bây giờ bố em cũng mât và không để lại di chúc.

Bây giờ em muốn nhờ pháp luật chia tài sản thừa kế này thì cần thực hiện những thủ tục gì?

Em xin trân thành cám ơn!

Trả lời:

Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Để chia thừa kế theo pháp luật, bạn cần thực hiện thủ tục khởi kiện chia tài sản thừa kế theo pháp luật.

Đơn khởi kiện (theo mẫu)

+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế.

+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

+ Bản kê khai các di sản;

+ Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;

+ Các giấy tờ khác: biên bản giải quyết trong hộ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn (nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản (nếu có).

Sau khi chuẩn bị xong hồ sơ, bạn gửi lên Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh nơi có di sản thừa kế.

Việc chia tài sản thừa kế theo pháp luật, sẽ căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015:

“Ðiều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.

Trân trọng cám ơn!

4. Muốn lấy lại phần đất thừa kế cần làm thế nào ?

Kính gửi VPLS GIA ĐÌNH, mong luật sư tư vấn hộ tôi trường hợp này: Hiện tôi đang có vụ việc thừa kế đất và được tòa án Thốt Nốt TP Cần Thơ thụ lý, trải qua hơn 1 năm giải quyết đến nay tất cả giấy tờ và sự đúng sai được minh chứng rõ ràng và bước cuối cùng là tòa án tiếng hành đo vẽ để trả phần thừa kế cho tôi.

Nhưng từ ngày đo vẽ cho đến nay hơn 8 tháng vênh đo đạc họ nói chưa có kết quả còn tòa án thì nói cần có kết quả đo vẽ mới có thể giải quyết được. Trong hợp đồng không phải chữ ký của tôi mà là chữ ký giả mạo. Bao nhiêu ngày trôi qua tôi được biết bên mua đã hối lộ cho người làm việc để việc chậm lại kéo dài thời gian. Vì bởi trước đó họ đã nói riêng tư với tôi đề nghị tôi lấy 1 số tiền rồi về quê nhưng tôi nhất quyết không lấy tiền chỉ nhận lại đất vì thế nên họ kéo dài thời gian. Giờ tôi rất hoan mang không biết hướng đi hy vong luật sư chỉ hướng cho tôi nên làm gì ?. Vì bên đo đạc họ nói chưa có kết quả đo vẽ.

Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cảm ơn !

Trả lời:

Ở đây là bạn được trả phần thừa kế đất và được tòa án Thốt Nốt TP Cần Thơ thụ lý và đã giải quyết để hưởng phần thừa kế đó . Nhưng vấn đề ở đây là bạn có hợp đồng mua bán đất nhưng không phải chữ của bạn mà là chữ ký giả mạo. Do đó theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.

Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Điều 124. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu

Điều 125. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

1. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:

a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

Như vậy, do hợp đồng không có chữ ký của bạn tức là bạn không tự nguyện tham gia giao dịch này nên giao dịch dân sự đó bị coi là vô hiệu. Mảnh đất bạn được thừa kế sẽ vẫn thuộc về bạn. Để xác nhận hợp đồng trên vô hiệu bạn cần làm đơn đến Tòa án nơi có mảnh đất để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu

Để khắc phục tình trạng chậm trễ trong đo đạc, bạn cần cần phải làm đơn nên cơ quan địa chính nơi có mảnh đất để cơ quan địa chính có trách nhiệm tốt hơn.

5. Phân chia thừa kế là đất đai theo luật dân sự ?

Xin chào luật sư. Tôi có câu hỏi mong nhận được sự tư vấn của luật sư : Bà ngoại tôi là N. T. Đ, có sinh 3 người con trai. Hiện tại các cậu đều đang sinh sống trong một ngôi nhà (nhà xây năm 1961). Ông ngoại tôi mất sớm, lúc thời còn chiến tranh.

Ngôi nhà này xây từ thời ông bà cố (tức là ba mẹ chồng của bà ngoại tôi). Ông bà cố có 3 người con. Một là ông ngoại X có 3 người con A, B, C, Hai là bà Y có 2 người con trai là D và E, ba là bà Z. Sau này ông cố mất, bà cố lúc tuổi già đã lập di chúc trong việc phân chia tài sản như sau:

Người A: "cái nhà trên, cháu đích tôn là người thừa kế gia đình này".

Người B: "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được".

Người C: "2 phòng, phòng để Tivi và phòng kế nhà bếp". Bà ngoại (vợ ông X): "1 phòng".

Người D & E: "3 phòng để gạo cám có khoá".

Trích nguyên văn như sau: "Nay tôi làm tờ di chúc này là do chồng tôi đã nói lại khi chồng tôi đã nhắm mắt và cũng theo lời hứa của chồng, sau khi tôi nhắm mắt xin các nhân chứng và chính quyền địa phương xác nhận đúng trong tờ di chúc". Tờ di chúc thể hiện ngày 02/12/1995. Có dấu tay của bà cố, có người làm giấy và nhân chứng, không có con dấu xác nhận của chính quyền địa phương tại thời điểm đó. Lưu ý một chỗ là người làm chứng lại ký tên và ghi thời điểm là ngày 03/12/1995. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện tại do bà ngoại tôi là vợ ông X đang đứng tên (đất Hộ gia đình, nguồn gốc: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất). Thời điểm cấp Giấy chứng nhận là ngày 16/03/2009.

Tôi có một số câu hỏi như sau:

1. Di chúc có hợp lệ không? Trong trường hợp không có chính quyền địa phương xác nhận cũng như thời điểm người làm chứng không đúng với thời điểm lập di chúc.

2. Tài sản sẽ được phân chia như thế nào nếu nhà bị sập hoặc đập nhà?

3. Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không? Bởi vì di chúc ghi không rõ ràng diện tích nên không xác định được. " Muốn cất nhà chỗ nào cũng được" không đồng nghĩa "tất cả chỗ ấy là của mình". Tổng diện tích lô đất gần 900 m2.

4. Người D & E có thực sự được chia không?

5. Trong trường hợp bà ngoại vợ ông X mất mà chưa làm thủ tục di chúc thì tài sản được phân chia như thế nào? Hoặc nếu bản gốc tờ di chúc bị thất lạc hoặc bị mối mọt không còn nguyên vẹn. Nếu gia đình anh em với nhau mà thoả thuận phân chia được hoặc di chúc ghi rõ diện tích thì có lẽ tranh chấp không xảy ra, nhưng hiện tại ông B đòi chia phần diện tích của bản thân, ông D & E đòi hơn thứ mình thực sự có. Bà tôi hiện tại giờ cũng đã 70 tuổi, cũng không biết chia như thế nào để các con vừa lòng.

Tôi xin chân thành cảm ơn!


Trả lời:

Thứ nhất: Trong trường hợp không có chính quyền địa phương xác nhận cũng như thời điểm người làm chứng ký không đúng với thời điểm lập di chúc thì di chúc có hợp lệ không?

Theo Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về di chúc hợp pháp như sau:

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Với quy định trên, một di chúc được coi là hợp pháp mà không được công chứng chứng thực nếu có đẩy đủ các điều kiện:

+ Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép

+ Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật

Đồng thời đối với chủ thế lập di chúc phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 2, khoản 3 Điều này nếu thuộc các trường hợp trên.

Theo thông tin bạn cung cấp, bà cố bạn có để lại di chúc được lập vào ngày 2/12/1995, hình thức di chúc được lập bằng văn bản và có chữ ký của người làm chứng, có dấu vân tay của bà cố bạn và không được công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, người làm chứng lại ký vào ngày 3/12/1995.

Căn cứ Điều 656 Bộ luật dân sự quy định di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

“Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này”.

Bạn chưa cung cấp được, khi bà cố lập di chúc, ai là người viết di chúc?

Trường hợp 1: Nếu bà cố tự viết di chúc và nhờ người làm chứng ký vào di chúc thì di chúc này hợp pháp.

Trường hợp 2: Nếu bà cố nhờ người lập di chúc, đồng thời có người làm chứng

Xét trường hợp di chúc nêu trên của bà cố bạn, bạn cần tìm hiểu lý do người làm chứng lại ký sau thời điểm lập di chúc. Nếu di chúc trên mà người làm chứng chứng minh và đưa ra lý do hợp pháp về việc ký vào di chúc, thì di chúc trên đã đáp ứng đầy đủ điều kiện của pháp luật. Nếu trường hợp người làm chứng không đưa ra lý do phù hợp về việc ký sau thời điểm lập di chúc, bạn cần xem xét lại tại thời điểm lập di chúc, bà cố bạn có lập trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt không hay bị cưỡng ép. Với trường hợp di chúc được lập trong tình trạng không minh mẫn, sáng suốt thì di chúc này vô hiệu.

2. Tài sản sẽ được phân chia như thế nào nếu nhà bị sập hoặc đập nhà ?

Theo Bộ luật dân sự quy định:

“Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực”.

Với quy định trên, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế, thì di chúc không còn hiệu lực pháp luật. Nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì di sản còn lại vẫn còn hiệu lực.

Đối với trường hợp của bạn, trường hợp nhà bị sập tại thời điểm mở thừa kế, nhưng diện tích đất không ảnh hưởng, vì vậy, người thừa kế vẫn được thừa kế diện tích đất có nhà bị sập đó. Trong trường hợp đập nhà tại thời điểm thừa kế mà không hỏi ý kiến của người thừa kế, sẽ phải bồi thường thiệt hại và nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đơn khởi kiện của người yêu cầu.

Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không? Bởi vì di chúc ghi không rõ ràng diện tích nên không xác định được. "Muốn cất nhà chỗ nào cũng được" không đồng nghĩa "tất cả chỗ ấy là của mình". Tổng diện tích lô đất gần 900 m2.

Theo Điều 648 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về giải thích nội dung di chúc:

Trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trường hợp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực.

Như vậy, với quy định này xét trong trường hợp của bạn, cả hai bên không thống nhất về nội dung di chúc, thì phần không rõ ràng đó không có hiệu lực, và sẽ phải chia theo thừa kế pháp luật nếu không ảnh hưởng đến các phần còn lại trong di chúc.

3. Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không?

Việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được quy định tại Điều 656 Bộ luật dân sự năm 2015:

"1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:

a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b) Cách thức phân chia di sản.

2. Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản".

Do đó, việc phân chia di sản thừa kế ưu tiên sự thỏa thuận của các đồng thừa kế và việc thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.

Nếu vẫn không thể thỏa thuận với nhau và có tranh chấp xảy ra khi thời hiệu khởi kiện về thừa kế vẫn còn theo quy định tại điều 623 Bộ luật dân sự năm2015:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu có tranh chấp thì các bên có thể khởi kiện yêu cầu chia thừa kế nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn mà ông B không được quyền quyết định diện tích đó....

                                                            LS TRẦN MIN HÙNG

  Luật sư Trần Minh Hùng là một trong những luật sư sáng lập văn phòng luật, giàu kinh nghiệm về kiến thức và thực tiễn đã dành nhiều thắng lợi vụ kiện và quan trọng luật sư Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, Đài truyền hình, Đài tiếng nói Việt nam phỏng vấn nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống. Luật sư Trần Minh Hùng được nhiều hãng truyền thông, báo chí trong nước  tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn trên VOV Giao Thông – Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài truyền hình TP.HCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Truyền hình SCTV, THĐN, Truyền hình Quốc Hội VN, Truyền hình Công an ANTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài phát thanh kiên giang... và các hãng báo chí trên cả nước, được các tổ chức, trường Đại học Luật TP.HCM mời làm giám khảo các cuộc thi Phiên tòa giả định với Đại học cảnh sát, mời làm chuyên gia ý kiến về các sự kiện……là đối tác tư vấn luật của các hãng truyền thông này và luôn mang lại niềm tin cho khách hàng và ghi nhận sự đóng góp của chúng tôi cho xã hội...là luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, các vụ Giết Người do mâu thuẫn hát karaoke tại Bình Chánh, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành- Dầu Dây, Bào chữa bị cáo Huân không đeo khẩu trang mùa Covit, Vụ Nữ sinh Tân Bình bị cắt tai, bảo vệ cho MC Trấn Thành, Bào chữa, bảo vệ vụ "Bác sĩ khoa rút ống thở", Bảo vệ cho người cho thuê nhà vụ Công ty Thế giới Di Động không trả tiền thuê nhà mùa dịch covid, các vụ Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, cưỡng đoạt, cướp, gây thương tích, tham ô, mua bán ma túy, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi..…là hãng luật tư vấn luật cho nhiều công ty Việt Nam và nước ngoài trên cả nước luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

Hỗ trợ trực tuyến

ĐIỆN THOẠI GẶP LUẬT SƯ : 0972238006(zalo, viber, telegram)
Hỗ trợ trực tuyến:
0972238006
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Thừa kế là gì, di sản thừa kế là gì, cách xác định di sản thừa kế
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CHO THUÊ NHÀ ĐẤT
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
luật sư tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp
luat su rieng cho cong ty
luật sư doanh nghiệp
luật sư doanh nghiệp
luật sư trả lời đài truyền hình
luật sư trả lời báo chí
Trang chủ | Hỏi đáp pháp luật | Văn bản pháp luật | Liên Hệ

  ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH

Chúng tôi tư vấn cho tất cả các khách hàng tại quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, tân bình, phú nhuận, Bình Thạnh, bình tân, tân phú, bình chánh, Thủ Đức... và các tỉnh trong cả nước. Chúng tôi tư vấn tận nhà, tận công ty nếu quý khách có nhu cầu thì liên hệ các luật sư gần nhất địa điểm quý vị đang sinh sống.

Liên hệ gặp luật sư: 

Văn phòng quận 6: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Quận 6, TP.HCM (địa chỉ mới: 402a Nguyễn Văn Luông, Phường Phú Lâm, TPHCM

(bên cạnh Phòng công chứng số 7).

Văn phòng quận 1: 68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TPHCM

Văn phòng Biên Hòa: 5/1 Nguyễn Du, Quang Vinh,

Biên Hoà, Đồng Nai.


Luật Sư Trần Minh Hùng, Trưởng văn phòng, điện thoại: 0972238006 (zalo-viber)- 028.38779958

Để thuận tiện cho quý vị muốn gặp trực tiếp luật sư, vui lòng điện thoại trước cho luật sư khi quý vị đến văn phòng chúng tôi. 

Trân trọng cảm ơn.




Email: vanphongluatsugiadinh@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net.vn
Giấy phép số: 41.01.1999/TP/ĐKHĐ do Sở tư pháp Tphcm cấp 03/06/2013, chủ sở hữu website: Trần Minh Hùng