Luật sư gia đình
Với phương châm "Luật Sư của Gia Đình Bạn, của doanh nghiệp" đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật uy tín thường xuyên tư vấn luật trên HTV, VTV, THVL, ANTV, VTC, SCTV, TH Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương, VOH và trên các tờ báo uy tín quốc gia... Chúng tôi chuyên tư vấn, bào chữa cho khách hàng, thân chủ trên mọi lĩnh vực đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp, ly hôn, công nợ, lao động, hợp đồng....
Trưởng VP:   LS TRẦN MINH HÙNG 
 
 
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Quan hệ pháp luật tranh chấp - Kiện đòi tài sản hay tranh chấp quyền sử dụng đất?
Luật sư tư vấn ly hôn nhanh tại quận 6
Vận chuyển bao nhiêu gam ma túy đá thì bị tử hình?
luật sư giỏi hình sự
Luật sư chuyên tư vấn pháp luật thừa kế tại quận bình tân
Một Việt kiều khởi kiện cháu trai ra Tòa vì không đòi được đất nhờ đứng tên
 Quy định chung khi lập di chúc thừa kế
Luật sư chuyên tư vấn pháp luật thừa kế tại quận bình tân
TRANH CHẤP THỪA KẾ CÓ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Những rủi ro pháp lý doanh nghiệp thường gặp

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ

Công nợ là gì? Thế nào là thủ tục khởi kiện thu hồi công nợ
Bản án về tội buôn lậu
Luật sư tư vấn tranh chấp thừa kế tại tphcm
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
luật sư thừa kế
Luật sư giỏi chuyên tranh tụng tại tòa án
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
luật sư công ty
luật sư thừa kế nhà đất
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư nhà đất thừa kế ly hôn doanh nghiệp
luật sư tư vấn ly hôn
luật sư nhà đất
luật sư thừa kế
ls
Luật Sư Chuyên khiếu Nại Đòi Lại Đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

ĐƠN KHIẾU NẠI

(V/v: Khiếu nại Quyết định số 12169/QĐ-UBND của UBND huyện Bình Chánh, ban hành từ năm 2016 nhưng đến nay mới giao, bồi thường thiếu diện tích đất thực tế, trái quy định pháp luật..).

 

Kính gửi: ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - TPHCM

 

Người khiếu nại: Ông Lê Văn Đeo, sinh năm: 1955

Cùng vợ là: Nguyễn Thị Đẹp, sinh năm:1957

Cùng địa chỉ: A12/5A ấp 1 xã Lê Minh Xuân, Bình Chánh, TPHCM

Người bị khiếu nại: ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - TP.HCM.

 

Nội dung khiếu nại:

Nguyên chúng tôi là chủ sử dụng đất thổ cư 250,2m2 của nhà và đất theo giấy giấy chứng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 1200/2004 nhà đất tọa lạc tại: A12/5A Mai Bá Hương, ấp 1, xã Lê Minh Xuân Bình Chánh, TPHCM và phần diện tích đất vườn chưa được cấp giấy chứng nhận theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 20/1/2016 của Công ty CP Vạn Phú Hưng với tổng diện tích thực tế: 851,1m2, trong đó 250,2m2 đã được cấp giấy chứng nhận. Thực tế đất nhà tôi phải được công nhận 300m2 đất thổ cư nhưng thời điểm cấp giấy chứng nhận năm 2004 không hiểu lý do gì mà UBND Huyện Bình Chánh chỉ cho gia đình tôi chuyển lên thổ cư có 250m2, trong khi theo Luật đất đai và hạn mức nhà ở là: 300m2.

Vào ngày 8/8/2016 tôi có được  UBND huyện Bình Chánh giao quyết định số 12169/QĐ-UBND của UBND huyện Bình Chánh về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về đất, cây trồng, ổn định đời sống, di chuyển nhà ở và hỗ trợ thêm của chủ đầu tư đối với ông Lê Văn Đeo và bà Nguyễn Thị Đẹp thuộc dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị Sing - Việt, tại xã Lê Minh Xuân, Bình Chánh.

Theo quyết định này thì toàn bộ diện tích đất của tôi nêu trên chỉ bồi thường, hỗ trợ...tổng cộng: 1.460.423.320 đồng làm tôi và gia đình tôi hết sức bức xúc và hoàng toàn không đồng ý với quyết định này.

Đất gia đình tôi có từ năm 1976, từ đó xây nhà cất ở cho đến nay, nhà đất có trước khi có dự án. Toàn bộ đất chúng tôi là đất thổ cư và xây nhà ổn định. Vậy vì lý do gì mà lại bồi thường cho tôi giá thổ cư chỉ: 2.137.000 đồng/m2 và hỗ trợ thêm đất mặt tiền kênh xáng nhỏ thêm mỗi 1.663.000 đồng /m2. Rất nhiều hạng mục không bồi thường cụ  thể các hạng mục từ 4 đến 19 (phần bồi thường, hỗ trợ về nhà, vạt kiến trúc, công trình xây dựng), phần mục 1 đến 2 (phần bồi thường tài sản khác) thì ghi bổ sung sau? Phần tính bồi thường hoa màu, cây trồng quá thấp, phần hỗ trợ cũng quá thấp khi tôi bị thu hòi đất đất, không bồi thường đất mới, không có suất tái định cư. Trong quyết định nêu trên đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của tôi, đây là hành vi “lấy thịt đè người” chiếm đất chứ không phải bồi thường. Rõ ràng đã có hành vi không minh bạch, không khách quan và không tuân theo quy định pháp luật đất đai về bồi thường, tái định cư và giải phóng mặt bằng khi bồi thường cho gia đình tôi.

Quyết định số 12169/QĐ-UBND của UBND huyện Bình Chánh ban hành thiếu căn cứ pháp lý và không thuyết phục, không khách quan, vi phạm pháp luật đất đai nghiêm trọng.

Đất cùng nguồn gốc, thời điểm, tình trạng pháp lý như nhau nhưng mức bồi thường khác nhau rất vô lý mà không đưa ra được căn cứ pháp lý thuyết phục.

Việc bồi thường, tái định cư, hỗ trợ của UBND huyện Bình chánh là không đúng theo Pháp luật đất đai 2003 và Luật đất đai 2014 hiện hành, cụ thể

Căn cứ theo quy định pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định như sau:

1/. Mức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho tôi tổng diện tích đất 851.1m2 mà chỉ có: 1.460.423.320 đồng . Đây là giá bồi thường quá thấp so với giá thị trường, không bảo đảm quyền lợi cho gia đình tôi. Đây là phần diện tích đất mà toàn thể các thành viên gia đình tôi tích góp bao nhiêu năm của tổ tiên để lại từ khi giải phóng đi cách mạng, là đất duy nhất và của gia đình tôi được mẹ tích góp cả đời cho chúng tôi. Với số tiền này gia đình tôi không đủ để mua phần diện tích đất khác tương đương để bảo đảm nuôi sống đủ các thành viên trong gia đình. Theo khảo sát giá của tôi đất xung quanh và giao dịch thực tế hiện nay trên thị trường thì đất nay trị giá khoảng 20.000.000 đồng/m2. Hành vi này không phải bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mà hành vi ngang nhiên chiếm đất bất hợp pháp của tôi của UBND huyện Bình Chánh.

Theo quy định tại khoản 2, điều 4, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/1/2006 quy định giá đất bồi thường như sau:

          "Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và công bố; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng; trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá này chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp”.

          Như vậy khi bồi thường, phải bồi thường sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường theo đúng quy định trên.

          Ngoài ra tại khoản 1, điều 11, Nghị định số 69/2009NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định:

          "Khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất, cho thuê đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và trường hợp doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất mà giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm giao đất, cho thuê đất, thời điểm quyết định thu hồi đất, thời điểm tính giá đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất cụ thể cho phù hợp".

Tại khoản 1, điều 5 Thông tư số 14/2009/TT- BTNMT ngày 1/10/2009 của Bộ tài nguyên Môi trường quy định:

"Giá đất để tính bồi thường quy định tại Điều 11 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP là giá đất theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi, được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm.

Trường hợp giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cho cơ quan chức năng xác định lại giá đất cụ thể để quyết định giá đất tính bồi thường cho phù hợp và không bị giới hạn bởi quy định về khung giá các loại đất"

          Cũng tại khoản 1, điều 9 Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TPHCM (ban hành kèm theo Quyết định số 35/2010/QĐ-UBND của UBND TP.HCM ngày 28/5/2010) quy định như sau:

Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại,

1. Giá đất để tính bồi thường: là giá đất theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi, được Ủy ban nhân dân thành phố quy định và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm.

Trường hợp tại thời điểm quyết định thu hồi đất mà giá đất do Ủy ban nhân dân thành phố công bố chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường, thì Ủy ban nhân dân quận, huyện thuê đơn vị tư vấn có chức năng xác định lại giá đất cụ thể để tính bồi thường cho phù hợp và không bị giới hạn bởi quy định về khung giá các loại đất; trên cơ sở kết quả của đơn vị tư vấn, Ủy ban nhân dân quận, huyện đề xuất đơn giá đất gửi Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố thẩm định và trình Ủy ban nhân dân thành phố quyết định giá đất để tính bồi thường. Phân công cho Ủy viên Ủy ban nhân dân thành phố kiêm Giám đốc Sở Tài chính thay mặt Ủy ban nhân dân thành phố, ký thay Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố văn bản phê duyệt giá đất để tính bồi thường; văn bản phê duyệt được đóng dấu của Ủy ban nhân dân thành phố.

Khi xác định giá đất để tính bồi thường phải đảm bảo nguyên tắc theo mục đích sử dụng hợp pháp, được hình thành từ kết quả của những giao dịch thực tế đã hoàn thành, mang tính phổ biến giữa người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng trong điều kiện thương mại bình thường, không chịu tác động của các yếu tố gây tăng hoặc giảm giá đột biến không hợp lý, như: đầu cơ, thiên tai, địch họa, khủng hoảng kinh tế, tài chính, thay đổi quy hoạch, chuyển nhượng trong tình trạng bị ép buộc, có quan hệ huyết thống hoặc có những ưu đãi khác"

Căn cứ vào những quy định nêu trên việc UBND huyện Bình Chánh ban hành Quyết định số 12169/QĐ-UBND từ năm 2016 với diện tích đất 851.1m2 mà chỉ bồi thường hỗ trợ toàn bộ có: 1.460.423.320 đồng/m2 là không những vi phạm pháp luật đất đai về bồi thường, giải phóng mặt bằng mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi. Liệu đây là tiền đền bù, hỗ trợ và tái định cư hay đây là hành vi cố tình lấy đất của tôi, ép tôi quá đáng để trục lợi trên mồ hôi nước mắt của gia đình tôi? một hành vi không thể chấp nhận được cả về mặt pháp lý và đạo đức.

Ngoài ra còn các văn bản mới mà Quốc hội và Chính phủ, Bộ tài nguyên Môi trường mới ban hành đều được áp dụng như: Luật đất đai 2014, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 43/2014NĐ-CP quy định chi tiết một số điều luật đất đai, Thông tư số 37/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, thông tư số 36/2014/TT-BTNMT quy định phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất,  Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất.

Tất cả các luật, văn bản và nghị định nêu trên nội dung đều quy định khi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đều phải áp dụng giá bồi thường là giá thực tế, giá đất liền kề mà các bên đã chuyển nhượng, phải thẩm định giá đất sát với giá thị trường chuyển nhượng thực tế, phải bồi thường đất đúng quyền lợi cho người bị thu hồi, hỗ trợ di dời, hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp, mất thu nhập khi bị thu hồi đất, hỗ trợ hoa màu, mất đất canh tác...

Không những thự hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không đúng pháp luật mà việc thực hiện quy trình, thủ tục thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ tái định cư cũng không thuân thủ quy định pháp luật, vi phạm pháp luật đất đai 2003 và cả luật đất đai 2014 hiện hành, cụ thể tại điều Điều 67 Luật đất đai 2013 quy định về thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:

1. Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.

Tuy nhiên, cho đến nay tôi chưa nhận được bất kỳ quyết định và thông báo thu hồi đất nào mà lại ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư số: 5299/QĐ-UBND ngày 29/12/2015 là vi phạm pháp luật đất đai,vi phạm pháp luật và hiến pháp về quyền sử dụng được pháp luật thừa nhận.

Ngoài ra, tại Điều 69 Luật đất đai 2013 quy định về Trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng quy định như sau:

1. Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm được quy định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất.

Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

b) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm;....

2. Lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:

a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.

Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền;

b) Cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.

3. Việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày;

b) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;

c) Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt;

d) Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện.

..........................................................

          Như vậy, UBND huyện Bình Chánh vẫn không thực hiện đúng thủ tục việc thu hồi, bồi thường và tái định cư như trên.

Khi bồi thường đất cho tôi thì chỉ ghi 1 khoản tiền bồi thường giá đất mà không hề có bất kỳ các khoản (bồi thường thấp) như: Hỗ trợ, bồi thường do mất thu nhập, ổn định nghề nghiệp, tái định cư theo như quy định luật đất đai 2003 và luật đất đai 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đất đai đã quy định rất rõ ràng.

Tại điều 74 Luật đất đại 2014 đã quy định về Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật”.

Đáng ra, khi thu hồi hết đất thổ cư và đất vườn của tôi UBND huyện Bình Chánh phải giao đất cùng mục đích, cùng loại...cho tôi theo quy định trên.

Tuy nhiên, UBND huyện Bình Chánh đã không thực hiện đúng quy định pháp luật đất đai như trên, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tôi và gia đình tôi.

Không những vậy, diện tích đất thổ cư tại huyện Bình Chánh trong hạn mức là: 300m2 nhưng khi UBND huyện Bình Chánh cấp giấy chứng nhận cho tôi năm 2004 lại chỉ cấp cho tôi 205,2m2 đất thổ cư dẫn đến việc hôm nay tôi được bồi thường diện tích đất thổ cư thấp là xâm phạm đến quyền lợi ích của tôi, tôi yêu cầu chỉnh lại phần đất thổ cư của tôi lên 300m2 theo quy định.

Gia đình tôi bị thu hồi toàn bộ diện tích đất ở và đất vườn, là diện tích đất duy nhất nhưng UBND huyện Bình Chánh không bồi thường và hỗ trợ tái định cư cho gia đình tôi, cụ thể Điều 86 Luật đất đai 2014 quy định về Bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở như sau:

1. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư.

Nội dung thông báo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư; dự kiến bố trí tái định cư cho người có đất thu hồi.

2. Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.

Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư.

3. Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định”.

Diện tích đất thổ cư trên giấy chứng nhận là 250,2m2 nhưng lại chỉ bồi thường có 147m2 là không có căn cứ vì đây là diện tích đất gia đình tôi, tôi chưa cho con gái tôi, chưa tách sổ, không công chứng tặng cho để mà trừ diện tích đất của tôi 103,20m2 như cách làm vô lý của UBND huyện Bình Chánh.

Việc thu hồi đất bất hợp pháp để trục lợi trên mồ hôi nước mắt của dân là điều không thể chấp nhận được mà Quốc hội và Chính phủ đã yêu cầu phải nghiêm minh, triệt để bảo đảm quyền lợi cho dân trong các kỳ họp quốc hội Nước cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt nam luôn đề cập đến.

Nay tôi khiếu nại Quyết định số 12169/QĐ-UBND của UBND huyện Bình Chánh ban hành từ năm 2016 nhưng mãi đến tháng 8/2017 mới giao quyết định cho tôi với các yêu cầu sau:

Yêu cầu bồi thường đất thổ cư với diện tích là: 300m2, với đơn giá: 11.000.000 đồng/m2

Bồi thường đất nông nghiệp xen kẽ đất thổ cư, khu dân cư với diện tích: 551,1m2 với đơn giá: 5.500.000 đồng/m2.

Bồi thường, hỗ trợ nhà, vật kiến trúc, công trình xây dựng từ mục 1 đến mục19 của Phiếu chiết tính 3840 tổng số tiền phải: 2000.000.000 đồng

Bồi thường tài sản trên đất khác: 50.000.000 đồng

Bồi thường hoa màu, cây trồng: 250.000.000 đồng.

Hỗ trợ di dời, ổn định cuộc sống: 120.000.000 đồng.

Hỗ trợ suất tái định cư cho 3 thành viên tôi và vợ, con trai chưa lập gia đình 1 suất tái định cư theo quy định.

Nếu không bồi thường theo đúng yêu cầu trên tôi yêu cầu giao diện tích đất tương đương, cùng tương đương vị trí, giá trị sử dụng, sinh sống...với phần diện tích tôi bị thu hồi.

Nếu không giải quyết triệt thỏa đáng tôi khiếu nại tới cùng trên mảnh đất của gia đình tôi.

Kính mong Qúy cơ quan giải quyết đúng luật

Xin chân thành cảm ơn.

                                                TP.HCM, ngày   tháng   năm 2017

                                                                   Đồng kính đơn

 

 

 

 

Đính kèm: 12169/QĐ-UBND, Phiếu chiết tính 3840,CMND, HK gia đình tôi, giấy giấy chứng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 1200/2004, bản vẽ ngày 20/1/2016 hiện trạng nhà đất.

Hỗ trợ trực tuyến

ĐIỆN THOẠI GẶP LUẬT SƯ : 0972238006(zalo, viber, telegram)
Hỗ trợ trực tuyến:
0972238006
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Thừa kế là gì, di sản thừa kế là gì, cách xác định di sản thừa kế
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CHO THUÊ NHÀ ĐẤT
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
luật sư tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp
luat su rieng cho cong ty
luật sư doanh nghiệp
luật sư doanh nghiệp
luật sư trả lời đài truyền hình
luật sư trả lời báo chí
Trang chủ | Hỏi đáp pháp luật | Văn bản pháp luật | Liên Hệ

  ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH

Chúng tôi tư vấn cho tất cả các khách hàng tại quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, tân bình, phú nhuận, Bình Thạnh, bình tân, tân phú, bình chánh, Thủ Đức... và các tỉnh trong cả nước. Chúng tôi tư vấn tận nhà, tận công ty nếu quý khách có nhu cầu thì liên hệ các luật sư gần nhất địa điểm quý vị đang sinh sống.

Liên hệ gặp luật sư: 

Văn phòng quận 6: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Quận 6, TP.HCM (địa chỉ mới: 402a Nguyễn Văn Luông, Phường Phú Lâm, TPHCM

(bên cạnh Phòng công chứng số 7).

Văn phòng quận 1: 68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TPHCM

Văn phòng Biên Hòa: 5/1 Nguyễn Du, Quang Vinh,

Biên Hoà, Đồng Nai.


Luật Sư Trần Minh Hùng, Trưởng văn phòng, điện thoại: 0972238006 (zalo-viber)- 028.38779958

Để thuận tiện cho quý vị muốn gặp trực tiếp luật sư, vui lòng điện thoại trước cho luật sư khi quý vị đến văn phòng chúng tôi. 

Trân trọng cảm ơn.




Email: vanphongluatsugiadinh@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net.vn
Giấy phép số: 41.01.1999/TP/ĐKHĐ do Sở tư pháp Tphcm cấp 03/06/2013, chủ sở hữu website: Trần Minh Hùng