|
BẢN
LUẬN CỨ
Vụ
án tranh chấp tài sản, ly hôn, nuôi con
I/ ĐỀ NGHỊ TÒA ÁN GIẢI QUYẾT
GIAO 2 CON chung CHO ÔNG HẢI:
Về con chung: Đề nghị tòa án chấp nhận cho ông Hải nuôi 02 con vì
những lý do sau :
Điều
81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con sau khi ly hôn như sau:
Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp
nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp
không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi
căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu
con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Theo
khoản 2 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án quyết định người trực
tiếp nuôi dưỡng con chung căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.
Trong
vụ án lý hôn giữa bà Trang và ông Hải, ông Hải có nguyện vọng được trực tiếp
nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét đến các yếu tố thời gian chăm sóc con, thu nhập
và tài chính, tinh thần để đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con phát triển tốt nhất,...
thì việc ông Hải được trực tiếp nuôi dưỡng con sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt
của các con. Cụ thể:
Từ trước đến nay, ông Hải
là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu An và cháu Nam từ lúc sinh ra, kể
cả sau này bà Trang bỏ nhà ra đi. Ông Hải là người chăm lo cho cháu An và cháu
Nam về mọi mặt: từ việc chăm sóc và theo dõi sức khỏe cho hai con đến việc tìm
trường tốt, đăng ký nhập học, nộp học phí, .... đều do 1 mình ông Hải thực hiện.
Ông Hải có đủ điều kiện
về mặt tài chính để chăm sóc và nuôi dưỡng hai con. Hiện tại, ông Hải có công
việc ổn định và thu nhập cao hơn rất nhiều so với bà Trang để có thể chăm sóc tốt
cả hai con. Giai đoạn từ tháng 10/2007 đến tháng 7/2014, thu nhập trung bình của
ông Hải là: 70.000.000 đồng/tháng và tăng dần. Giai đoạn từ tháng 7/2014 đến
nay, thu nhập của ông Hải trung bình là 170.000.000 đồng.
Từ năm 2014 đến nay thu nhập từ tiền lương ông Hải lên tới gần 18 tỷ. Số tiền
này đa số ông Hải dùng chi việc mua tài sản nhà đất như hiện nay và để nuôi 2
con ăn học.
Hai cháu An và Nam được
ông Hải cho theo học tại các trường đạt tiêu chuẩn quốc tế và các khoản học phí
của hai cháu từ lúc 06 tháng tuổi đến nay đều do ông Hải trực tiếp đóng. Giấy xác nhận ngày 11/8/2021 của Trường mầm non Montessori, các Biên
lai thanh toán ngày 27/4/2017, 29/11/2017, 27/8/2018 của Trường quốc tế Sài Gòn
Pearl và Giấy xác nhận ngày
09/10/2023 của Trường phổ thông song ngữ liên cấp Wellspring Saigon thể hiện số
tiền học phí mà ông Hải đã đóng như sau: + Học phí nhà
trẻ và mẫu giáo tại Trường mầm non Montessori: 1.526.574.193 đồng. + Học
phí học kỳ I tại lớp chồi Trường quốc tế Sài Gòn Pearl: 248.235.000 đồng.
+ Học phí học kỳ II tại lớp chồi Trường quốc tế Sài Gòn Pearl: 248.235.000 đồng.
+ Học phí lớp hè tại Trường quốc tế Sài Gòn Pearl: 39.680.000 đồng. + Tiền
quỹ tái nhập học tại Trường quốc tế Sài Gòn Pearl: 45.000.000 đồng. +
Học phí lớp 1 năm học 2019 – 2020 tại Trường Wellspring: 395.838.000 đồng.
+ Học phí lớp 2 năm học 2020 – 2021 tại Trường Wellspring: 387.494.000 đồng.
+ Học phí lớp 3 năm học 2021 – 2022 tại Trường Wellspring: 315.905.591 đồng.
+ Học phí lớp 4 năm học 2022 – 2023 tại Trường Wellspring: 393.266.840 đồng.
+ Học phí lớp 5 năm học 2023 – 2024 tại Trường Wellspring: 420.410.680 đồng.
Tổng số tiền học phí mà
ông Hải đã trực tiếp đóng cho các con từ lúc 06 tháng tuổi đến hiện tại là: 4.020.639.304 đồng. Số tiền này do ông
Hải 1 mình tự đóng và không có đóng góp, không có đồng nào của bà Trang.
Ngày 16/6/2018, bà
Trang đã đưa hai con ra khỏi nhà mà không hỏi ý kiến của ông Hải, dấu ông Hải,
hạn chế quyền thăm nuôi con của ông Hải. Trong suốt 06 tháng bà Trang đưa hai
con đi (từ 16/6/2018 đến 18/12/2018), vì bà Trang chăm sóc hai con không tốt
nên sức khỏe của cháu An và Nam đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng: cháu Nam bị mắc
chứng hen suyễn cấp trung và cháu An bị suy dinh dưỡng, sức đề kháng thấp. Ông
Hải đã nộp hồ sơ bệnh án của con ngay sau khi mới đưa con về từ nhà bà Trang
cho toà án sơ thẩm để chứng minh cho vấn đề này.
Ngoài ra, khi ở với bà
Trang, hai con cũng phải chuyển sang học tại trường có điều kiện học tập thấp
hơn trường quốc tế mà các con đã theo học trước đó. Việc thay đổi môi trường học
từ môi trường đạt tiêu chuẩn quốc tế sang môi trường học có điều kiện thấp hơn
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tốt nhất của các con. Cả hai cháu đều bày tỏ về
việc không thích ngôi trường mà bà Trang đã chuyển cho hai cháu.
Căn cứ khoản 2 điều điều
81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi quyết định người trực tiếp nuôi
dưỡng con nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì Tòa án phải xem xét nguyện vọng của
con. Hai cháu An và Nam sinh ngày 19/7/2013, tính đến thời điểm hiện tại
hai cháu đã 10 tuổi, do đó cần cân nhắc nguyện vọng của hai cháu. Trước đó, hai
con từng bày tỏ với ông Hải: hai con rất sợ phải về sống với mẹ con bà Trang
do thức ăn không ngon……, không có mùng cũng như giường riêng, hai con phải chia
nhau ra ngủ, một cháu được ngủ trên giường, một cháu phải ngủ dưới đất.
Ngoài ra, tại Biên bản
lấy lời khai của hai con do tòa án xuống tận nhà thu thập có các cơ quan liên
quan chứng kiến thì Diệp Lê An và Diệp Lê Nam ngày 25/7/2023, cả hai con đều có
ý kiến: muốn được ở với ba. Đây yếu tố quan trọng cho việc giao con cho ông Hải.
Công việc của bà Trang
rất bận, theo ông Hải thường phải đến 8 hoặc 9 giờ tối mới về đến nhà nên không
đủ thời gian chăm sóc hai con. Ngoài ra, với thu nhập của bà Trang thì không đủ
điều kiện để chăm lo cho hai con học tại trường quốc tế, ngôi trường, môi trường
tốt cho các con.
Hiện nay 2 con chung của
Hải, Trang đều sinh đôi, các cháu ở với nhau từ nhỏ, ăn học cùng nhau, quen nếp
sống sinh hoạt với nha…sinh sống, học tập với nhau đã quen và cùng phát triển.
Từ lúc Hải đưa con về nuôi thì các cháu đã phát triển cả về thể chất và tinh thần,
sức khỏe, học lực, đều tốt. Các cháu không còn bị hen suyễn nặng như khi bà
Trang nuôi nữa, sức khỏe cải thiện lên nhiều qua các hồ sơ khám sức khỏe mà ông
Hải đã nộp tòa án.
Ông Hải làm việc quản
lý, có thể ngồi ở nhà làm việc, không bó buộc về mặt thời gian, bằng chứng
camera ông Hải nộp tòa chứng minh ông Hải thường xuyên cho các con ăn học, chăm
sóc cả trong giờ hành chính….
Trước khi bà Trang đưa
con đi 6 tháng thì trước đó 2 cháu đều ở nhà gia đình Hải, anh Hải cũng là người
chăm sóc các cháu là chính, không phải chỉ 1 mình bà Trang chăm, việc chăm sóc
con là rất quen thuộc với ông Hải.
Để phụ anh Hải và để
cho con phát triển tốt nhất thì anh Hải có thuê 2 cô giúp việc, 2 người này do
anh thuê, tự thanh toán tiền thuê hàng tháng…(đính kèm phiếu trả tiền giúp việc
gửi tòa sơ thẩm).
Việc giao con cho anh Hải,
anh Hải không hạn chế quyền nuôi con của Trang, anh Hải luôn cho Trang thăm
nuôi con, chủ nhật, thứ 7 hàng tuần, nghày nghỉ nào Trang cũng tới nhà Hải thăm
nuôi 2 cháu, chơi 2 cháu, có không gian phòng riêng cho 2 cháu và bà Trang, nên
giao con cho Hải thì Trang vẫn thăm nuôi con cháu bình thường, không ảnh hưởng
gì đến các cháu và đến bà Trang. Ông Hải cũng không có hành vi đưa con đi trốn
tránh mẹ như Trang trước đây đã đưa con trốn khỏi cha, không cho Hải thăm con.
Do đó, yêu cầu được trực
tiếp nuôi dưỡng 2 con của ông Hải là có căn cứ, đúng pháp luật, bảo đảm cho sự
phát triển tốt nhất của 2 con.
II VỀ TÀI SẢN:
Trong thời kỳ hôn nhân ông Hải có tạo lập:
+ Căn nhà đất: 93A lô C2, đường 24B, phường
An Phú, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.
(Căn nhà hiện đang thế chấp tại
Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) – chi nhánh Thủ Đức)
+ Nền đất 133.7m2
thuộc lô số C39 dự án Khu dân cư Bình Chiểu, phường Bình Chiểu, thành phố Thủ Đức,
thành phố Hồ Chí minh. (theo Hợp đồng góp vốn đầu tư xây dựng hạ tầng
kỹ thuật số 1098/HĐ-KD-BC-08 được ký kết giữa ông Hải và Công ty Cổ phần Phát
triển Nhà Thủ Đức vào ngày 18/8/2008).
1/.
Chia nhà đất:
93A lô C2, đường 24B, phường An Phú, quận
2, thành phố Hồ Chí Minh .
Trong thời kỳ hôn nhân,
ông Hải và bà Trang đã vay Ngân hàng Eximbank tổng cộng: 3.820.000.000
đồng theo Hợp đồng tín dụng số: LAV20160050
và Hợp đồng tín dụng số: LAV20170027 mục đích vay
là để mua đất, xây nhà và tiêu dùng.
Số dư nợ còn lại phải
thanh toán tại 02 Hợp đồng tín dụng trên tạm tính đến ngày 17/10/2023 là: 422.740.000
đồng.
Trong
giai đoạn trả nợ chung từ ngày 30/12/2014 đến ngày 31/8/2018, số tiền đã trả gốc
và lãi là: 3.777.218.878 đồng.
Trong tổng số tiền trên thì Trang chỉ đóng là: 657.538.394 đồng.
Như vậy, 3.777.218.878 đồng – 657.538.394 đồng
=3,119,680,484 vnđ, xét khoản nợ gốc và lãi trong thời kỳ chưa ly thân thì anh
Hải đã thanh toàn gấp gần 6 lần bà Trang.
Trong
giai đoạn ông Hải và bà Trang ly thân, một mình ông Hải đã dùng tài sản riêng để
thanh toán nợ chung, cụ thể như sau: + Từ ngày 01/7/2018
đến ngày 04/02/2020, ông Hải thanh toán cho Ngân hàng Eximbank số tiền: 354.942.856 đồng. + Từ ngày 05/02/2020
đến ngày 04/3/2020, ông Hải thanh toán cho Ngân hàng Eximbank số tiền: 18.429.344 đồng. + Từ ngày 05/3/2020 đến
ngày 14/01/2021, ông Hải thanh toán cho Ngân hàng Eximbank số tiền: 199.867.267 đồng.+ Từ ngày 15/01/2021
đến ngày 23/10/2023, ông Hải thanh toán cho Ngân hàng Eximbank số tiền: 530.328.980 đồng.
Tổng số tiền gốc và lãi
là: 1.257.515.000 đồng. Số
tiền này 1 mình Hải đóng.
Đối với khoản nợ chung,
bà Trang chỉ đóng góp 657.538.394 đồng để thanh toán tiền lãi phát sinh
từ các khoản vay dùng để mua đất, xây nhà. Trong khi đó, ông Hải đã sử dụng tài
sản riêng để thanh toán tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ các khoản nợ chung và số
tiền ông Hải đóng góp nhiều gấp nhiều lần bà Trang.
Cụ thể, tổng số tiền nợ
gốc ông Hải đã dùng tài khoản cá nhân thanh toán cho Ngân hàng Eximbank: 3.397.260.000
đồng (có sao kê chi tiết đã nộp cho tòa sơ thẩm). Tổng số tiền lãi ông Hải
đã dùng tài khoản cá nhân thanh toán cho Ngân hàng Eximbank là: 1.113.057.993
đồng (đã sao kê chi tiết nộp tòa sơ thẩm).
Tổng
số tiền nợ gốc và lãi đối với 02 Hợp đồng tính dụng số LAV20160050 và số
LAV20170027 mà
ông Hải đã dùng tài sản riêng để thanh toán cho Ngân hàng Eximbank chi nhánh Thủ
Đức là: 4.510.317.993
đồng.
Căn nhà số 93A lô C2,
đường 24B, phường An Phú, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, nếu xét về công sức
đóng góp của các bên thì ông Hải là người đóng góp nhiều hơn. Từ lúc tìm, đặt cọc,
mua đất cho đến ký hợp đồng thiết kế, xây dựng, mua gạch, nội thất, hoàn thiện
nhà, xin hoàn công, ra sổ hồng, ra số nhà đều cho ông Hải trực tiếp đảm nhận và
thanh toán bằng thu nhập của ông Hải, 1 mình ông Hải giao dịch.
Theo Hợp đồng
mua bán ngày 25/12/2014 giữa ông Hải và ông Nguyễn Đức Thịnh, bà Lê Ánh Tuyết:
ông Thịnh, bà Tuyết đã đồng ý chuyển nhượng nền số: 93A, đường 24B, phường An
Phú, quận 02 với giá 3.760.000.000
đồng. Ngay khi ký
Hợp đồng mua bán ngày 25/12/2014, ông Hải đã chuyển khoản thanh toán 200.000.000 đồng tiền đặt cọc cho ông Thịnh, bà Tuyết. Sau đó, vào
ngày 30/12/2014, sau khi hoàn thành việc công chứng hợp đồng, ông Hải tiếp tục
chuyển khoản: 2.460.000.000
đồng và vay nợ
Ngân hàng Eximbank (theo Hợp đồng tín dụng số: 1809-LAV-201401178): 1.120.000.000 đồng để thanh toán số tiền còn lại cho ông Thịnh, bà Tuyết.
Tất cả những khoản tiền thanh toán tiền mua nền đất số 93A đều được chuyển từ
tài khoản cá nhân của ông Hải tại Ngân hàng Eximbank và có sao kê của Ngân hàng
Eximbank.
Căn cứ Hợp đồng
mua bán ký ngày 25/12/2014 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày
30/12/2014 tại Văn phòng công chứng Thủ Đức, nội dung các bản hợp đồng trên đều
thể hiện “Bên chuyển nhượng” gồm: ông Nguyễn Đức Thịnh, bà Lê Ánh Tuyết và “Bên
nhận chuyển nhượng” chỉ gồm ông Hải, hoàn toàn không có tên bà Trang tại
các bản hợp đồng mua bán căn nhà số 93A. Chỉ sau khi ông Hải hoàn công mới cho
tên bà Trang vào và ra vay tiền tại Ngân hàng Eximbank thì trên Hợp đồng tín dụng
mới có tên của bà Trang.
Ông Hải đã vay
Ngân hàng Eximbank 03 lần để thanh toán các khoản tiền mua đất, xây căn nhà số
93A, tổng số tiền vay là: 1.120.000.000
đồng + 2.200.000.000 đồng + 500.000.000 đồng = 3.820.000.000 đồng.
Tổng số tiền nợ gốc và lãi ông Hải dùng
tài sản riêng để thanh toán các khoản vay mua đất, xây nhà đối với 02 Hợp đồng
tính dụng số LAV20160050 và số LAV20170027 sau khi đã trừ số tiền lãi mà bà
Trang đóng góp là: 4.510.317.993 đồng – 657.538.394 đồng = 3.852.779.599 đồng.
Căn cứ số tiền lãi mà bà Trang đã đóng
góp để tạo lập căn nhà số 93A, tỷ lệ bà Trang đã đóng góp để tạo lập căn nhà số
93A là: 12.7%. Tỷ lệ ông Hải đã đóng góp tạo lập căn nhà là: 87.28%.
Cụ thể: 4.510.317.993vnđ + 657.538.394 vnđ = 5.167.856.387 vnđ. Trong đó
657.538.394 vnđ: 5.167.856.387 vnđ x100% = 12,7% là phần bà Trang được hưởng
giá trị.
Ông Hải có công sức đóng góp tạo lập căn
nhà số 93A nhiều hơn bà Trang, nên yêu cầu Tòa phân chia bằng tài sản, cho ông
Hải được giữ quyền sở hữu đối với căn nhà và trả lại cho bà Trang giá trị căn
nhà bằng tiền mặt dựa trên tỷ lệ đóng góp tạo lập căn nhà trên của bà Trang.
Trong khi đó, phần đóng
góp tạo lập căn nhà trên của bà Trang là 657.538.394
đồng. Số tiền bà Trang đã đóng góp mua đất và thanh toán tiền lãi từ
các khoản vay dùng để mua đất, xây nhà, cụ thể như sau:+ Ngày 10/11/2014, bà
Trang chuyển vào số tài khoản 200...768 tại Ngân hàng Eximbank của ông Hải: 250.000.000
đồng. + Ngày 28/11/2016, bà Trang chuyển vào số tài khoản 200...768 tại
Ngân hàng Eximbank của ông Hải: 157.538.394 đồng. + Ngày 28/11/2016, bà
Trang chuyển vào số tài khoản 200...768 tại Ngân hàng Eximbank của ông Hải: 200.000.000
đồng. + Từ tháng 01 đến tháng 5/2018, bà Trang chuyển 50.000.000 đồng vào
tài khoản 0531...513 tại Ngân hàng Vietcombank của ông Hải: 50.000.000 đồng.
Căn cứ Điểm
b khoản 4 điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định về
nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:
Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ
chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung
của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để
xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:
...
b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng
vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về
tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc
tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở
nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập
tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.
Ngoài ra, căn cứ
điều 59, Luật HNGĐ 2014 quy
định cụ thể các nguyên tắc phân chia như sau:
+ Nguyên tắc
chia đôi (Khoản 2, điều 59, luật hôn nhân gia đình) nhưng có tính đến các
yếu tố sau:
- Hoàn
cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
- Công sức đóng
góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.
Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
- Bảo vệ lợi ích
chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có
điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
- Lỗi của mỗi
bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Căn nhà số 93A lô C2, đường 24B, phường
An Phú, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, nếu xét về công sức đóng góp của các bên
thì ông Hải là người rõ ràng đóng
góp nhiều hơn bà Trang rất nhiều và công
sức, lao động, tâm huyết của ông Hải đối với căn nhà này như tôi phân tích
trên.
Căn nhà 93A tại địa chỉ trên cũng là nơi
ông Hải làm việc từ năm 2017 đến nay, đó chính là phương tiện kiếm sống, làm ăn
để đảm bảo cho cuộc sống của ông Hải và hai con; là nơi sinh hoạt khi các con lớn
lên.
Do đó xét về công sức đóng góp và để đảm
bảo quyền, lợi ích hợp pháp của hai cháu An và Nam, yêu cầu Tòa án chia bằng hiện
vật, cho ông Hải được giữ quyền sở hữu căn nhà trên, ông Hải đồng ý trả lại cho
bà Trang 10% giá trị căn nhà bằng tiền là có căn cứ pháp lý.
Từ các căn cứ trên cho thấy việc ông Hải
đồng ý chia cho bà Trang 10% trên tổng giá trị tài sản 13.662.397.160 đồng
là đúng với công sức của bà Trang và anh Hải và đúng pháp luật.
2/ Đối với nền đất 133.7m2 thuộc lô số
C39 dự án Khu dân cư Bình Chiểu, phường Bình Chiểu, thành phố Thủ Đức, thành phố
Hồ Chí minh:
Yêu cầu chia tài sản chung:
Đối với nền đất 133.7m2
thuộc lô số C39 dự án Khu dân cư Bình Chiểu, phường Bình Chiểu, thành phố Thủ Đức,
thành phố Hồ Chí minh. (theo Hợp đồng góp vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
số 1098/HĐ-KD-BC-08 được ký kết giữa ông Hải và Công ty Cổ phần Phát triển Nhà
Thủ Đức vào ngày 18/8/2008).
Yêu cầu chia ông Hải 80% vì ông Hải là
người có công nhiều hơn, bằng chứng là các khoản tiền 1.062.000.000vnd thanh
toán mua lô nền này đều do Hải tự thanh toán bằng tiền riêng có trước khi kết
hôn, bà Trang không thanh toán khoản tiền nào cho nền đất này. Căn cứ pháp lý
như tôi viện dẫn tại phần chia nhà đất số 93A
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..
III/ HOÀN LẠI TIỀN ĐÓNG HỌC PHÍ CHO ÔNG
HẢI
Tổng số tiền học phí mà ông Hải tự dùng
tài sản riêng đóng cho các con là: 4.020.639.304
đồng từ lúc 6 tháng tuổi cho đến hiện tại:
Số tiền nợ gốc và lãi, tiền học
phí của các con thuộc nghĩa vụ chung của vợ chồng, ở đây ông Hải không tính tiền
ăn, nuôi học. Do trong thời gian ly thân, ông Hải đã tự dùng tài sản riêng để
thanh toán các khoản nghĩa vụ chung trên nên yêu cầu bà Trang hoàn lại cho ông
Hải ½ số tiền trên là: 2.010.319.652vnđ.
Yêu cầu thanh toán cho ông Hải trước khi chia tài sản chung, hoặc cấn trừ vào
phần tài sản bà Trang được chia.
IV/ PHẦN NỢ CÒN LẠI:
Nợ
chung còn lại theo 2 HĐTD là: 422.740.000vnđ, ông Hải yêu cầu bà Trang chịu khoản
nợ này 20% tương đương: 84.548.000vnđ
Ông Hải đồng ý nhận hiện vật
nên yêu cầu bà Trang hoàn khoản tiền này cho ông Hải hoặc cấn trừ vào tài sản
bà Trang được chia.
Trên đây là quan điểm bảo vệ quyền lợi của
tôi cho ông Hải.
Đề nghị Tòa án chấp nhận.
Trân trọng cảm ơn HĐXX
Ls Trần Minh Hùng
|